Lớp 9Ngữ Văn

Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí | Ngữ Văn 9

Tuyển chọn những bài văn hay Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí. Với những bài văn mẫu ngắn gọn, chi tiết, hay nhất dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

      Trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, quân dân ta thiếu thốn đủ thứ về đạn dược, vũ khí, nơi ăn chốn ở. Cuộc sống túng hàn nay càng thêm khắc nghiệt. Những người lính Cụ Hồ thời ấy, họ xuất thân chủ yếu từ những làng quê nghèo khó, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc mà lên đường chiến đấu. Bởi vậy, họ mang vào cuộc chiến đấu những gì rất thân thuộc, bình dị, chân thực mà quyết liệt, quả cảm nhất. Ở những con người nông dân mặc áo lính ấy, họ không chỉ dũng cảm, kiên cường, lạc quan mà còn mang một tình đồng chí keo sơn gắn bó. Viết về họ, Chính Hữu thành công với tác phẩm “Đồng chí”. Trong chương trình Ngữ Văn 9, ta sẽ bắt gặp dạng đề vẻ đẹp tình đồng chí của những người lính trong “Đồng chí”. Với kiểu đề này cần tập trung làm nổi bật biểu hiện cũng như ý nghĩa của tình đồng chí. Dưới đây là bài văn mẫu vẻ đẹp của tình đồng chí trong “Đồng chí” – Chính Hữu.

Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí – Bài mẫu 1

Bạn đang xem: Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí | Ngữ Văn 9

      Chính Hữu là người lính và cũng là nhà thơ của lính. Thơ ông không nhiều song ấn tượng bởi lời thơ hàm súc, ngôn ngữ, hình ảnh chân thực mà giàu ý nghĩa biểu tượng. “Đồng chí” là tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ. Bài thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp của tình đồng chí của những người lính cách mạng trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp.

      Bài thơ “Đồng chí” được Chính Hữu viết năm 1948 trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ, khó khăn. Sau chiến dịch Việt Bắc năm 1947, Chính Hữu bị ốm nặng phải nằm lại tại một trạm quân y, đơn vị đã cử người ở lại chăm sóc. Cảm động trước tấm lòng tình cảm của người đồng đội, Chính Hữu đã viết lên bài thơ. Bài thơ đã khắc họa hình tượng người lính cách mạng từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của tình đồng chí đồng đội keo sơn, gắn bó của họ.

      Trước hết vẻ đẹp của tình đồng chí được thể hiện ở cơ sở hình thành lên tình đồng chí. Cơ sở đầu tiên hình thành nên tình đồng chí là cùng chung cảnh ngộ xuất thân – đều là những người nông dân mặc áo lính:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

      Lời thơ tự nhiên như lời kể của người lính về quê hương: anh đi lên từ vùng đồng bằng chiêm trũng “nước mặn đồng chua”,  tôi đi ra từ vùng “đất cày lên sỏi đá”- vùng trung du miền núi. Quê anh, làng tôi – hai vùng quê cách xa nhau nhưng đều chung nhau cái nghèo khó, lam lũ. Việc sử dụng sáng tạo những thành ngữ tục ngữ đã tạo cho lời thơ mộc mạc tự nhiên như tâm hồn người trai cày nói về quê hương mình. Như vậy, những người lính đều ra đi từ những làng quê nghèo khó, họ đều là những người nông dân mặc áo lính. Chính sự đồng cảnh, đồng giai cấp đã tạo cơ sở ban đầu vững chắc để hình thành lên tình đồng chí.

      Cơ sở thứ hai hình thành lên tình đồng chí là cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng. Anh với tôi từ bốn phương trời xa lạ chẳng hẹn mà cùng tụ hội về đây trong quân ngũ của lá cờ cách mạng bởi: “Súng bên súng đầu sát bên đầu”. Câu thơ có hình ảnh chân thực mà giàu ý nghĩa biểu tượng: “súng bên súng” là cùng chung nhiệm vụ cầm súng chiến đấu. “Đầu sát bên đầu” là cùng chung chí hướng, lý tưởng ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc. Cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng đã gắn kết anh tôi với nhau.

      Tình đồng chí còn được hình thành từ sự chia sẻ gắn bó trong gian khổ khó khăn:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”

      Câu thơ đầy ắp kỷ niệm của một thời gian khổ khó khăn: những đêm đông lạnh giá chăn không đủ đắp, họ phải chung nhau mảnh chăn mỏng. Tấm chăn sui khép lại đêm đông lạnh giá nhưng mở ra sự gắn bó hiểu nhau như tri kỷ. Cấu trúc anh tôi sống đôi khi ở hai câu thơ khi gộp làm một đã diễn tả quá trình từ xa lạ, quen nhau rồi thành tri kỉ và kết thành: “Đồng chí”. Câu thơ thứ bảy chỉ với hai tiếng và dấu chấm than vang lên như một nốt nhấn thể hiện sự phát hiện về một thứ tình cảm bình dị mà thiêng liêng, mới mẻ của những người lính cách mạng: đồng chí. Câu thơ như bản lề của bài thơ vừa khái quát cảm xúc ở sáu câu thơ đầu, vừa mở ra những biểu hiện ở những dòng thơ tiếp theo. Đồng thời làm nổi bật một quy luật tất yếu: cùng chung cảnh ngộ xuất thân, cùng nhiệm vụ lý tưởng, cùng chia sẻ gắn bó thì sẽ trở thành đồng chí của nhau.

      Vẻ đẹp của tình đồng chí còn được thể hiện ở những biểu hiện cụ thể của tình đồng chí. Biểu hiện đầu tiên của tình đồng chí là họ thấu hiểu tâm tư, nỗi lòng của nhau:

” Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đã nhờ người ra lính.”

      Những người lính ra đi để lại sau lưng tất cả những gì thân thuộc nhất: ruộng nương, gian nhà, giếng nước, gốc đa. Từ “mặc kệ” đã thể hiện thái độ dứt khoát quyết chí ra đi vì nghĩa lớn. Mặc kệ mà không hề dửng dưng vô tình: họ ra đi nhưng từ trong sâu thẳm người lính vẫn nhớ về quê hương, họ vẫn biết nơi quê nhà ruộng nương vẫn chờ tay người cày xới, gian nhà lung lay trong gió chờ người sửa sang, nơi giếng nước gốc đa có ánh mắt người thân trông ngóng. Đặc biệt hình ảnh nhân hóa ẩn dụ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” đã thể hiện quê hương vẫn  nhớ người trai cài ra trận hay người ra trận vẫn nhớ về quê hương. Nỗi nhớ hai chiều càng trở nên da diết. Trong đoạn thơ cấu trúc “anh- tôi” sóng đôi giờ chỉ còn lại anh: nỗi nhớ quê hương trong lòng anh được tôi nói hộ. Tôi nói cho anh hay đó cũng chính là nỗi nhớ quê hương của tôi. Những người lính họ thấu hiểu tâm tư nỗi lòng của nhau.

      Tình đồng chí còn được thể hiện ở sự chia sẻ gắn bó trong gian khổ khó khăn của cuộc đời người lính. Anh với tôi cũng chịu những cơn sốt rét từng hành hạ:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.”

      Cơn sốt rét từng đã trở thành căn bệnh phổ biến với những người lính trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp ăn uống kham khổ, thiếu thốn thuốc men. Chính Hữu đã gợi tả một cách chân thực: “biết ớn lạnh”, “sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”. Anh với tôi cùng chịu cảnh thiếu thốn:

“Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Chân không giày”

       Chính Hữu đã đưa vào trong lời thơ những hình ảnh chân thực về cuộc sống chiến đấu của người lính Cách mạng trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp thiếu thốn đủ bề từ lương thực đến tư trang. Để từ đó người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về anh bộ đội. Cấu trúc “anh –  tôi” lại sóng đôi như khẳng định trong gian khổ khó khăn đều có anh có tôi cùng chia sẻ gắn bó.

      Trong gian khổ khó khăn người lính cách mạng hiện lên vẫn hiên ngang, lạc quan. Trong gian khổ khó khăn họ vẫn nở nụ cười – nụ cười lạc quan ấm áp xua tan cái giá buốt. Đặc biệt là hình ảnh “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” rất tự nhiên, chân thực nhưng đã thể hiện sâu sắc cảm động tình đồng chí của người lính cách mạng. Họ nắm lấy tay nhau như để động viên nhau, như để truyền cho nhau hơi ấm sức mạnh của tình đồng chí để cùng nhau chắc tay súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Phải chăng tình đồng chí vừa là vẻ đẹp vừa là cội nguồn sức mạnh của người lính cách mạng?

      Không những thế vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ còn được thể hiện ở biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí. Với bút pháp hiện thực kết hợp với cảm hứng lãng mạn ba câu thơ cuối đã gợi lên bức tranh cảnh đường đêm khuya thật đẹp:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”

       Trên nền hiện thực khắc nghiệt: đêm khuya, nơi “rừng hoang sương muối” giá buốt, người lính hiện lên với tư thế chủ động hiên ngang “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Chính tư thế thành đồng vách sắt ấy đã làm lu mờ đi mọi gian khổ khó khăn. Phải chăng chính tình đồng chí đã làm lên vẻ đẹp ấy của người lính? Hình ảnh người lính được kết đọng lại qua chi tiết bất ngờ, độc đáo:

” Đầu súng trăng treo”

       “Đầu súng trăng treo” được Chính Hữu nhận ra từ chính những đêm hành quân phục kích chờ giặc của mình và đồng đội. Giữa mênh mông bát ngát của rừng khuya, người lính chắc tay súng canh gác, mũi súng hướng lên trời. Trăng lơ lửng giữa không trung, càng về khuya trăng xuống thấp dần, đến một mức độ nào đó nhìn lên trăng như treo trên đầu ngọn súng. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” còn gợi bao liên tưởng thú vị cho người đọc: “súng” là biểu tượng của chiến tranh, của hiện thực, của chất chiến sĩ; “trăng” là biểu tượng của hòa bình, của lãng mạn, của chất thi sĩ. Sự kết hợp của hai hình ảnh tưởng chừng như đối lập nhau mà lại hỏi hòa bổ sung cho nhau để cùng nói về các mặt của người lính và tình đồng chí: vừa chiến sĩ mà lại rất thi sĩ, vừa hiện thực mà lại lãng mạn. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” còn nói lên ý nghĩa cao cả của cuộc kháng chiến: người lính cầm súng chiến đấu bảo vệ hòa bình cho quê hương, đất nước. Nhịp thơ 2/2 như gợi nhịp lắc của cái gì lơ lửng chung chiêng giữa bát ngát mênh mông chứ không thể buộc chặt. Giữa hiện thực khắc nghiệt nhưng tâm hồn người lính vẫn lãng mạn, bay bổng bởi trong lòng họ có tình đồng chí ấm áp. Chính vì vậy “Đầu súng trăng treo” đã trở thành biểu tượng của người lính cách mạng trong văn học kháng chiến và được Chính Hữu chọn làm nhan đề cho tập thơ nổi tiếng của ông.

      Bài thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp tình đồng chí qua những nét nghệ thuật đặc sắc. Đó là thể thơ tự do phù hợp với cảm xúc tự nhiên dồn nén của bài  thơ. Ngôn ngữ hình ảnh chân thực mà giàu ý nghĩa biểu tượng. Cấu trúc “anh- tôi” sóng đôi đã góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm. Bài thơ còn sử dụng kết hợp các biện pháp tu từ: nhân hóa, ẩn dụ,… Với những nét đặc sắc nghệ thuật ấy, bài thơ đã ca ngợi tình đồng chí đồng đội keo sơn gắn bó của người lính cách mạng trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài thơ đã thể hiện sự gắn bó, am hiểu sâu sắc và tấm lòng trân trọng yêu thương đồng đội của nhà thơ. Cùng với các tác phẩm khác như “Tây Tiến” của Quang Dũng, “Nhớ” của Hồng Nguyên,… “Đồng Chí” của Chính Hữu đã góp phần làm phong phú hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ trong thơ ca hiện đại. Bài thơ đã mở ra một hướng đi mới cho văn học kháng chiến viết về người lính cách mạng: cảm hứng thơ đi lên từ hiện thực đời thường mà vẫn dạt dào lãng mạn.

      Với bút pháp hiện thực kết hợp với cảm hứng lãng mạn, ngôn ngữ, hình ảnh chân thực giàu sức gợi, bài thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp của tình đồng chí của những người lính cách mạng trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Bài thơ đã đem đến cho người đọc cảm nhận chân thực về người lính cách mạng trong những năm kháng chiến chống Pháp. Chính vì vậy bài thơ có sức sống mãi trong lòng người đọc.

Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí – Bài mẫu 2

Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí ngắn gọn nhất (ảnh 2)

      “Đồng chí” của Chính Hữu là một trong những tác phẩm tiêu biểu sáng tác trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đến với bài thơ, để lại ấn tượng sâu sắc nhất với người đọc là tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó của những anh bộ đội cụ Hồ.

      Mở đầu bài thơ là dòng tâm tình của hai người bạn về quê nhà với những câu thơ mộc mạc, tự nhiên:

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.

      Quê hương anh ở nơi đồng bằng chiêm trũng “nước mặn đồng chua”, làng tôi ở vùng trung du bạc màu “đất cày lên sỏi đá”. Cả hai vùng quê đều là những vùng quê nghèo, khó trồng trọt. Từ mọi miền của đất nước, buông xuống cái cày, cái quốc, họ đến với chiến trường, họ “chẳng hẹn” mà quen nhau, bởi hoi có chung mục đích đánh đuổi giặc Pháp bảo vệ quê hương. Họ cùng nhau trải qua khó khăn, kề vai sát cánh, chia sẻ khó khăn gian khổ:

Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!

      Từ hai con người xa lạ hộ quen nhau, cùng chung lí tưởng mục đích chiến đấu mà trở thành đồng chí của nhau. “Đầu bên đầu” là cùng chung lí tưởng, mục đích chiến đấu, “ súng bên súng” là cùng kề vai sát cánh chiến đấu cùng nhau. Hình ảnh sóng đôi được tác giả sử dụng gợi nên tình gắn bó keo sơn của người chiến sĩ. Không chỉ cùng nhau chiến đấu, họ còn cùng nhau chia sẻ với nhau những khó khăn. Đêm tối nơi chiến khu với cái lạnh thấu xương, họ cùng chung nhau cái chăn, truyền chi nhau hơi ấm để vượt qua cái lạnh. Chỉ những hành động ấy mà giữa họ dần trở thành tri kỉ và phát triển thành một thứ tình cảm thiêng liêng hơn. Đó là tình đồng chí. Hai chữ “Đồng chí” vang lên giữa những khó khăn, thiếu thốn về vật chất, nó vừa là kết thúc của đoạn thơ thứ nhất, vừa là khởi đầu để kết nối đoạn thơ tiếp theo. Nó vang lên như một tiếng gọi thiêng liêng, trầm hùng và đầy xúc động của những người lính. Đó còn là khẳng định của tác giả: Đồng chí là cùng chung hoàn cảnh, cùng chung lí tưởng, mục tiêu cách mạng, cùng chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn, vất vả trong chiến đấu.

      Vẻ đẹp của tình đồng chí còn được thể hiện khi họ sẵn sàng chia sẻ cảm thông sâu sa những hoàn cảnh, tâm tư sâu kín của nhau:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Căn nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

      Khi đã trở thành tri kỉ của nhau, khi tấm chăn đắp chung chùm lên, họ bắt đầu tâm sự với nhau về nỗi nhớ sâu kín của mình. Đó là nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương, nhớ những người thân yêu nơi hậu phương của mình. Tình đồng chí hiện lên thật sâu đậm, họ hiểu bạn như hiểu mình. Tác giả đã sử dụng hình ảnh quen thuộc như ruộng nương, giếng nước gốc đa,… gợi nhớ về quê hương của họ. Đặc biệt từ “mặc kệ” được nhà thoe sử dụng tinh tế thể hiện sự quyết tâm ra đi của người lính, lên đường cầm súng đánh giặc. Nỗi nhớ quê hương càng là động lực cho họ vững tay súng.

      Tình đồng chí còn được nhà thơ thể hiện rõ nét khi họ sẵn sàng giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

      Nơi chiến trường, người lính phải trải qua bao khó khăn gian khổ. Trước hết đo là căn bệnh sốt rét quái ác, nguy hiểm và còn trong hoàn cảnh chiến tranh thiếu thốn về thuốc men thì căn bệnh này càng đáng sợ hơn. Những cơn sốt cao, cơn ớn lạnh dày vò các anh đòi hỏi các người lính phải căn răng chịu được, tự cường, tự lực mà vượt qua. Không chỉ vậy, nơi đây còn thiếu thốn rất nhiều về vật chất : áo rách vai, quần vá, chân không giày. Trong cái thời tiết khắc nghiệt ở chiến khu, các anh trải qua mà chân không vật bao bọc. Nhưng họ chưa bao giờ than vãn, cùng chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau “miệng cười buốt giá”; “ thương nhau tay nắm chặt bàn tay”. Chỉ cần một nụ cười, cái nắm tay ấy thôi cũng truyền cho người lính hơi ấm trong cái giá lạnh, truyền cho họ sự động viên, sức mạnh để vượt qua khó khăn. Từ đó thấy được sự lạc quan của người lính trong khó khăn gian khổ. Điều đó làm cho tình đồng chí thêm gắn bó keo sơn và hóa thành sức mạnh đoàn kết trong cuộc kháng chiến.

      Tình đồng chí cao đẹp nhất có lẽ được biểu hiện trên mặt trận chiến đấu, tôi luyện trong thử thách gian nao:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

      Trong khoảng thời  gian là “đêm nay” với khung cảnh là “ rừng hoang” trong cái hoàn cảnh thời tiết khắc nghiệt là “ sương muối” người lính vẫn đứng bên nhau trong tư thế “chờ” giặc tới. Đây là một tư thế chủ động, sẵn sàng chiến đấu trong bất cứ hoàn cảnh nào. Và khi ấy, ở một góc nhìn nào đó, tác giả đã phát hiện một hình ảnh lạ “đầu súng trăng treo”. Vầng trăng sáng trên đầu trở thành người bạn cùng kề vai sát cánh với người lính, vừa soi sáng và sưởi ấm cho người lính trong hoàn cảnh lúc bấy giờ. Súng và trăng, thực tại và mơ mộng, chiến tranh và hòa bình, chiến sĩ và thi sĩ, hiện thực và lãng mạn cứ đan cài vào nhau tạo nên một câu thơ tuyệt đẹp. Sự đan cài ấy vừa cho thấy hiện thực chiến tranh khốc liệt, khó khăn vừa làm sáng lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính. Hình ảnh đầu súng trăng treo như một bức tượng đài sừng sững cho tình đồng chí.

      Bài thơ “Đồng chí” đã khắc họa thành công hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ và tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn của họ. Điều đó đã góp phần tạo nên thành công của tác phẩm và khẳng định tên tuổi của Chính Hữu.

Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí – Bài mẫu 3

      Chính Hữu là một nhà thơ quân đội trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc. Thơ của ông có bề dày về thời gian, tầng cao về cảm xúc, giàu chất hiện thực và vẻ đẹp của người lính Cách Mạng trong kháng chiến. Chính Hữu viết không nhiều nhưng những tác phẩm của ông đều mang hơi thở của thời đại, trong đó có bài thơ “Đồng chí” sáng tác năm 1948. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ với những vẻ đẹp giản dị, sơ khai nhưng có một đời sống tâm hồn, mục đích, lý tưởng cao đẹp, đặc biệt là tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, thắm thiết.

      Bài thơ được làm theo thể thơ tự do, 20 dòng thơ với ngôn ngữ bình dị, giọng điệu thơ thủ thỉ, tâm tình, cảm xúc dồn nén, hình tượng thơ phát sáng, có nhiều câu thơ để lại ấn tượng trong lòng bạn đọc. Mở đầu bài thơ là hình ảnh hai người lính trẻ chụm đầu vào nhau kể chuyện tâm tình:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

      Hai câu thơ đầy ấn tượng về những vùng đất cảnh đời đầy nhọc nhằn, vất vả. Cách nói cô đúc, khắc họa rõ nét những vùng quê nghèo của những người lính. Các anh đến từ những miền quê khác nhau nhưng lại chung cái đói, cái nghèo lam lũ. Chữ nghĩa bình thường mà như đang cựa quậy như cuộc sống thực đã ùa vào trong câu chữ đem đến những cảm nhận sâu sắc về hoàn cảnh xuất thân và quê hương của những người lính. Tổ Quốc gọi các anh lên đường, họ không hẹn mà gặp gỡ ở chiến trường. Nơi đây các anh cùng chung lý tưởng, nhiệm vụ chiến đấu để bảo vệ Tổ Quốc:

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

      Tình đầu chí nảy nở bền chặt trong sự chan hòa, chia sẻ mọi gian lao cũng như niềm vui, đó là mối tình tri kỷ của những người bạn chí cốt mà tác giả biểu hiện bằng một hình ảnh thật cụ thể, giản dị mà hết sức gợi cảm:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”

      Đêm Việt Bắc thì quá rét, chăn lại quá nhỏ, loay hoay mãi không đủ ấm. Đắp được chăn thì hở đầu, đắp được bên nọ lại hở bên kia. Trong những ngày tháng thiếu thốn ấy, từ “xa lạ” họ trở thành “tri kỷ”.

      “Tri kỷ” là những người bạn thân thiết, hiểu rõ về nhau. Vất vả, nguy nan đã gắn kết những người lính trở thành bạn tâm giao gắn bó. Chính Hữu đã từng là một người lính, đã trải qua cuộc đời người lính nên câu thơ bình dị mà có sức nặng tình cảm trìu mến yêu thương đồng đội. Hình ảnh giản dị nhưng cảm động biết bao.

      Từ trong tâm khản, họ bỗng bật thốt lên hai từ “Đồng chí!”, đặt cả trong một dòng thơ ngắn gọn mà ngân vang, giản dị mà thiêng liêng. “Đồng chí” với dấu chấm cảm như một nốt nhấn đặc biệt mang những sắc thái biểu cảm khác nhau vừa mới mẻ lại vừa thiêng liêng. Đồng chí là cùng chí hướng, cùng mục đích, là mối tình tri kỷ nhưng được thử thách, tôi rèn trong gian khổ. Như vậy trong tình đồng chí còn có tình giai cấp, tình bè bạn, tình tri kỷ, mối tình dân tộc của những người vì nước, quên thân để tạo nên sự hồi sinh cho quê hương, dân tộc. Câu thơ vẻn vẹn có hai chữ nhưng chất chứa dồn nén bao cảm xúc sâu xa từ 6 câu thơ trước và khởi đầu cho những suy nghĩ tiếp theo.

      Từ những cơ sở hình thành tình đồng chí, những biểu hiện cao đẹp đầy xúc cảm ở những câu tiếp theo, Chính Hữu cụ thể hơn vẻ đẹp tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng thắm thiết. Đồng chí trước hết là sự thấu hiểu và chia sẻ những tâm tư, nỗi lòng của nhau:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”

      Hai chữ “mặc kệ” đã lột tả được tinh thần mến nghĩa của những người nghĩa binh nông dân trong thơ Nguyễn Đình Chiểu, tinh thần “Ra đi không vương thê nhi” của các đấng trượng phu xưa, và tinh thần “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” của những người tự vệ thủ đô trong ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Nhưng khi đặt cạnh “Gian nhà không” và “Gió lung lay” thì có gì đó cảm động quá. Người lính không hoàn toàn “mặc kệ” như khẩu khí đâu. Đó là đức hy sinh. Hy sinh những thứ gắn bó để bảo vệ quê hương đất nước. Một đức hy sinh giản dị cảm động lòng người.

      Trải qua những ngày gian lao kháng chiến đã ngời lên phẩm chất anh hùng ở những người nông dân mặc áo lính. Cái nhìn hiện thực đã giúp nhà thơ ghi lại được những nét chân thực về cuộc đời đi chiến đấu của người lính:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

      Chính Hữu còn ghi lại được những hình ảnh người lính can trường vượt lên vững vàng trên vị trí của mình. Bức tượng đài cuối bài thơ:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.”

      Ba câu thơ là bức tranh tuyệt đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ. Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt qua tất cả khắc nghiệt của thời tiết. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh đẹp nhất vì nó vừa là hình ảnh tả thực, vừa là hình ảnh biểu tượng. Bốn chữ có nhịp lắc của cái gì lơ lửng chông chênh trong sự bát ngát. Suốt đêm vầng trăng ở trên cao thấp dần và có lúc treo lơ lửng trên nền mũi súng. Những đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng như một người bạn thân thiết, gắn bó. “Súng” và “trăng” gợi ra nhiều liên tưởng thú vị. “Súng” biểu tượng cho chiến đấu, “trăng” biểu tượng cho vẻ đẹp thơ mộng, trong sáng, thanh cao, vĩnh hằng. “Súng” và “trăng”, gần và xa, thực tại và mơ mộng, chiến sĩ và thi sĩ, chất chiến đấu và chất trữ tình. Đây là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ. Mối tình đồng chí đang nảy nở, vươn cao từ cuộc đời chiến đấu.

      Tình đồng chí đồng đội như là sự hội tụ, tập trung tất cả những tình cảm, những phẩm chất của nhũng người lính giản dị, cao quý. Gian lao thử thách khiến tình đồng chí đồng đội thêm keo sơn sâu sắc. Ngược lại, tình đồng chí đồng đội giúp người lính có sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn

Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí – Bài mẫu 4

Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí ngắn gọn nhất (ảnh 3)

      Chính Hữu là nhà thơ chiến sĩ thơ Ông chủ yếu viết về người lính và chiến tranh. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Chính Hữu là bài thơ Đồng chí – đứa con tinh thần ra đời vào đầu năm 1948 được in trong tập Đầu súng trăng treo. Bằng hình ảnh thơ độc đáo sử dụng bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, Chính Hữu đã khiến người đọc thấu hiểu vẻ đẹp tình đồng chí đồng đội trong hoàn cảnh chiến đấu cụ thể của anh bộ đội cụ Hồ thời kỳ chống Pháp.

      Bài thơ Đồng chí được viết sau khi Chính Hữu cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc Thu Đông 1947 đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của Pháp lên chiến khu Việt Bắc. Qua đó, nhà thơ đã ca ngợi tình cảm đồng đội, đồng chí keo sơn, gắn bó của những người lính cách mạng mà trước hết, là được thể hiện ngay từ cơ sở xuất thân:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

      Với cách xưng hô giản dị, tân mật “anh – tôi”, lời thơ như lời tâm tình, trò chuyện, các anh đã giới thiệu về quê hương làng quê của mình. Anh gắn bó với quê hương “nước mặn, đồng chua” – những vùng đất nhiễm mặn, khó trồng khó cấy. Làng tôi ở thì cằn cỗi, bạc màu khó trồng trọt, “chó ăn đá, gà ăn sỏi”. Như vậy, tình đồng chí đồng đội của người lính bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó. Họ cùng chung mục đích, lý tưởng nhập ngũ, hành quân, chung lời hẹn với non sông, để từ “đôi người xa lạ” mà “chẳng hẹn quen nhau”. Từ đấy, tình đồng chí càng thêm gắn bó trong cuộc sống chiến đấu: 

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

      Bằng việc sử dụng hình ảnh vừa mang tính tả thực hành trình hành quân, vừa mang  ý nghĩa biểu tượng: “súng” là biểu tượng cho nhiệm vụ chiến đấu, “đầu” là biểu tượng cho lý tưởng chiến đấu, nhà thơ đã khắc họa tình cảm gắn kết bền chặt trong chiến đấu của người lính cách mạng. Các anh còn đắp chung nhau chiếc chăn mỏng trong những đêm giá rét và từ xa lạ mà quen nhau trở thành tri kỉ, hiểu bạn như hiểu mình. Để rồi những tình cảm ấy đã dồn nén tích tụ để thốt lên hai chữ “Đồng chí!”. Câu thơ là một dòng thơ đặc biệt tách riêng chỉ với hai tiếng cùng dấu chấm than đã khẳng định tình cảm ấm áp thiêng liêng, gắn bó, bền chặt, đoàn kết giữa những người lính. 

      Tình cảm đồng chí thiêng liêng, ấm áp ấy càng được thể hiện rõ hơn trong những câu thơ tiếp theo:

“Ruộng nương anh gửi bản thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

      Trước tiên, những người lính tâm sự với nhau rõ hơn về gia cảnh của mình. Với người nông dân, có thể nói căn nhà, ruộng vườn là những tài sản quý giá nhất, gắn bó nhất, thế nhưng nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ đã cùng nhau “mặc kệ” tất cả để sẵn sàng lên đường nhập ngũ đánh giặc. Song, điều đó không đồng nghĩa với việc họ sẽ quên đi làng xóm, quên đi quê hương. Mà ngược lại hình ảnh quê hương quen thuộc “giếng nước gốc đa” hay chính là con người quê hương sẽ in bóng mãi trong tâm khảm người lính để trở thành động lực, sức mạnh, tình cảm to lớn dành cho các anh. Những người lính không chỉ hiểu nhau mà còn cảm thông sâu sắc cho nỗi lòng của nhau.

      Tình đồng chí cùng chia sẻ những gian khổ, thiếu thốn của người lính:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai 

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày”

      Nhà thơ đưa những chi tiết hình ảnh thơ cụ thể chân thực nhất không hề tô vẽ để thể hiện những gian lao thiếu thốn của cuộc đời người lính ở thời kỳ đầu cuộc kháng chiến. Các anh sốt run người, vùng trán ướt mồ hôi là cùng biết cũng chịu những cơn sốt rét hành hạ ghê gớm. Giữa núi rừng Việt Bắc trong mùa đông buốt giá mà người lính chỉ có mong manh chiếc áo rách, manh quần có những mảnh vá, thiếu cả những đôi giày. Các chi tiết chân thực ấy cũng đủ tái hiện biết bao khó khăn thiếu thốn về quân trang, quân phục, thuốc men của người lính Cụ Hồ. Nhưng trong khó khăn thiếu thốn ấy những người lính lại hiện lên thật đẹp qua hình ảnh “miệng cười buốt giá”, nụ cười vượt lên cái lạnh, cái rét, cái khổ tràn đầy tinh thần lạc quan, bất chấp khó khăn gian khổ. Chính tình đồng đội đã sưởi ấm lòng các anh ” thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

      Càng đẹp hơn nữa chính là vẻ đẹp tình đồng chí được thể hiện trong hoàn cảnh chiến đấu cụ thể:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

      Bức tranh hiện ra với hoàn cảnh thời gian, không gian cụ thể. Đêm đã khuya, nơi núi rừng hoang vu vắng lặng, càng về đêm, sương muối càng dày hơn, càng tê buốt hơn, lạnh thấu da thịt. Trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ đó, người lính đứng cạnh bên nhau phục kích chờ giặc. Các anh đứng trong tư thế chủ động bình tĩnh sẵn sàng “chờ giặc tới”. Trong đêm chiến đấu, người lính còn một người bạn nữa, đó là vầng trăng. Đêm càng khuya, trăng như sà xuống thấp dần, như đậu trên đầu ngọn súng. Đầu súng trăng treo còn là hình ảnh thơ vô cùng lãng mạn. Súng và trăng là gần và xa, là hiện thực chiến đấu và sự lãng mạn bay bổng, là hình ảnh người chiến sĩ và người thi sĩ. Sự kết hợp, giao thoa ấy đã tạo nên vẻ đẹp tâm hồn người lính. 

      Tiếp cận đề tài người lính dưới góc độ bình dị, chân thành ở phương diện tình đồng chí, đồng đội, Chính Hữu đã góp phần làm phong phú hơn thơ ca thời kỳ kháng chiến. Người lính trở nên gần gũi và gắn bó hơn với cuộc sống. Từ bài thơ này, người đọc chúng ta đã nhận sức mạnh diệu kỳ của quân đội Việt Nam: tình đồng chí đồng đội góp phần làm cho dân tộc ta chiến thắng kẻ thù dù chúng mạnh hơn ta nhiều lần về vũ khí phương tiện vật chất. “Đồng chí” của Chính Hữu là một tác phẩm đặc sắc trong đề tài người lính chống Pháp. Ta thêm trân trọng và tự hào về vẻ đẹp người lính, về thế hệ cha anh đi trước và sống có trách nhiệm hơn trong hiện tại.

Như vậy Đại Học Đông Đô đã trình bày xong bài văn mẫu Cảm nhận vẻ đẹp của tình đồng chí trong bài thơ Đồng Chí. Hy vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em học tốt môn Văn!

Đăng bởi: Đại Học Đông Đô

Chuyên mục: Lớp 9, Ngữ Văn 9

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button