Lớp 12Ngữ Văn

Giá trị hiện thực của vợ chồng A Phủ dàn ý

Câu hỏi: Lập dàn ý về giá trị hiện thực của vợ chồng A Phủ 

Lời giải:

1. Dàn ý mẫu 1

a. Mở bài:

      – Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung cần phân tích.

b. Thân bài:

Bạn đang xem: Giá trị hiện thực của vợ chồng A Phủ dàn ý

      * Bức tranh về cuộc sống bị áp bức, chà đạp tàn bạo của những người nông dân thấp cổ bé họng:

      – Mị và A Phủ là những nạn nhân đáng thương của chế độ phong kiến miền núi, bị chà đạp, áp bức, tước đoạt tự do.

– Bi kịch của Mị:

      + Làm con dâu gán nợ, để tận hiếu với cha, đau đớn đến độ muốn chọn cái chết bằng nắm lá ngón, Mị cũng không thể toại nguyện.

      + Chai lì hết mọi xúc cảm và khao khát tự do, biến thành một con người lầm lũi như con rùa trong xó cửa.

      + Đời sống tinh thần Mị cũng phải gánh chịu nhiều giày vò phải sống với người mình không yêu là A Sử, bị đánh đập và đối xử tàn nhẫn, dã man.

      + Cuộc sống của Mị bị vây trong một căn buồng tối có duy nhất một ô cửa bé bằng bàn tay mà “lúc nào cũng thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng”.

      => Tuyệt vọng nghĩ rồi cô sẽ sống ở căn phòng tối tăm này cho đến chết thì thôi, chứ không còn một mối thoát nào khác.

– A Phủ:

      + Chỉ vì một cuộc ẩu đả với A Sử mà cuối cùng A Phủ bị phạt vạ oan ức một số tiền lớn.

      + Phải vĩnh viễn chôn chân tại nhà kẻ thống trị, làm lụng như trâu, như ngựa, sống cuộc đời của một nô lệ để trả món nợ bất công.

– Cha của Mị:

      + Một người nông dân nghèo, vay tiền nhà thống lý để cưới vợ, làm lụng quanh năm suốt tháng để trả nợ, năm nào cũng trả một nương ngô, ấy vậy mà đến khi Mị đã lớn, người vợ đã chết, món nợ ấy vẫn còn.

      + Phải trả giá cả bằng hạnh phúc của chính con cái mình.

* Tố cáo, vạch trần bộ mặt tàn bạo, gian ác của bọn cường quyền phong kiến miền núi:

– Mị:

      + Sự tàn bạo ấy thể hiện ở việc Mị bị bắt cướp về nhà thống lý cúng trình ma mà không được sự ưng thuận của cô.

      + Mị muốn đi chơi, A Sử trở về túm tóc Mị rồi trói đứng Mị ở cái cột trong căn buồng tối, rồi bỏ đi chơi tiếp.

      + Khi Mị tận tâm chăm sóc cho chồng, chỉ vì mệt quá nên thiếp đi, ấy thế mà A Sử đã thẳng chân đạp Mị ngã dúi dụi.

– A Phủ:

      + Vụ việc ẩu đả giữa A Sử và A Phủ đã trở thành cái cớ để chúng biến A Phủ thành một nô lệ trong nhàn quan, để có thể ra sức bóc lột.

      + Một đám xử kiện, thế nhưng người ta chỉ thấy khói thuốc phiện ngập tràn, cùng với một loạt những lời định tội, tính tiền hệt những con buồn, cuối cùng khép A Phủ vào món nợ 100 bạc trắng.

      + Trói đứng A Phủ giữa sân để anh tự sinh tự diệt chỉ vì anh làm mất 1 con bò.

3. Kết bài:

­- Nêu cảm nhận chung.

2. Dàn ý mẫu 2

a. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:

      + Tô Hoài là một trong những cây đại thụ của nền văn học Việt Nam hiện đại với hơn 70 năm cầm bút với một gia tài văn học đồ sộ để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả nhiều thế hệ.

      + Vợ chồng A Phủ là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952 kể về cuộc đời của đôi trai gái người Mèo là Mị và A Phủ.

      – Dẫn dắt vấn đề nghị luận: Thông qua cuộc đời, số phận của Mị và A Phủ, “Vợ chồng A Phủ” đã thể hiện những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc thể hiện góc nhìn tinh tế và nhạy bén, cũng như tấm lòng của nhà văn hướng về con người và cuộc đời.

b. Thân bài

* Luận điểm 1: Khái quát về giá trị hiện thực 

      – Giá trị hiện thực là bức tranh đời sống hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm của mình, tuỳ vào ý đồ sáng tạo mà hiện tượng đó có thể đồng nhất với thực tại cuộc sống hoặc có sự khúc xạ ở những mức độ khác nhau.

*Luận điểm 2: Nêu và phân tích giá trị hiện thực của Vợ chồng A Phủ.

      – Bức tranh đời sống thống khổ, bị bóc lột của người nông dân miền núi trước cách mạng tháng Tám

+ Nhân vật Mị:

      – Trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra vì món nợ truyền đời truyền kiếp của cha mẹ

      – Gọi là con dâu nhưng lại là kiếp con dâu gạt nợ, làm việc quần quật không được nghỉ ngơi

      – Nơi ở chỉ là một căn buồng nhỏ kín mít, có duy nhất một “chiếc cửa sổ một lỗ vuông mờ mờ trăng trắng”

      – Bị đày đọa về tinh thần, bị đối xử như con ở

      – Bị đem đi cúng trình ma rồi nên không dám bỏ trốn

      => Cuộc sống không khác gì địa ngục, bị áp bức, bóc lột, bị tha hóa, thay đổi, trở thành nô lệ, tê liệt cảm xúc, như một cái xác không hồn.

+ Nhân vật A Phủ

      – Trở thành con ở, bị đọa đày về thân xác, làm hết việc này đến việc khác, đều là những việc vô cùng nguy hiểm.

      – Vì vô ý làm mất bò mà bị chửi là quân ăn cướp, bị trói, đào hố chôn cọc. -> Sự vô lí của giai cấp thống trị.

– Chế độ phong kiến miền núi tàn bạo độc ác:

Đám cha con thống lí Pá Tra, A Sử và đám tay sai của chúng:

      + Cho dân vay nặng lãi, cúng trình ma để hù dọa người dân, mỗi năm lãi càng thêm nhiều.

Dẫu đánh A Sử có lí do chính đáng nhưng người sai vẫn là A Phủ, phải chịu hình phạt nặng nề và xử kiện một cách oan uổng.

      + A Phủ bị nhà thống lí khiêng mang về, trói và ném giữa nhà không khác gì đối xử với một con vật.

      + Hình ảnh phiên tòa: Suốt đêm chỉ nghe thấy tiếng mắng chửi, hình ảnh hút thuốc phiện, không được thanh minh giải thích, bị quy chụp cho cái mũ tội lỗi.

      + Cảnh hút thuốc phiện, hành hạ A Phủ, trói, đánh đập Mị… của bố con thống lí

      – Những phong tục tập quán, hủ tục của người miền núi vùng Tây Bắc: cúng trình ma,…

c, Kết bài

      – Khái quát giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

      – Cảm nhận của em.

3. Dàn ý mẫu 3

a. Mở bài

      Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nội dung yêu cầu của đề bài: Giá trị hiện thực của tác phẩm.

b.Thân bài

* Giải thích

      – Giá trị hiện thực là gì? => Đó là bức tranh đời sống hiện thực được nhà văn phản ánh trong tác phẩm của mình. Đó là bức tranh đời chân thực nhất được người nghệ sĩ cải biến đưa vào trang văn của mình, từ đó phản ánh lên những sự thực ở đời đến người đọc. Mỗi tác phẩm văn học đều có giá trị hiện thực, bởi văn chương không thể xa rời thực tế, cũng như “Nhà văn phải là người thư ký trung thành của thời đại” (Balzac).

      – Giới thiệu khái quát về tác phẩm: “Vợ chồng A Phủ” là tác phẩm được Tô Hoài viết sau khi 8 tháng ở miền núi Tây Bắc với bộ đội và những người dân tộc nơi đây. Chính vùng đất thiêng liêng ấy đã để lại nhớ thương trong lòng ông, khiến ông phải cầm bút lên viết ngay tác phẩm này như một lời chào trở lại với miền đất thân yêu ấy. Tác phẩm kể về nhân vật Mị, vì món nợ của gia đình mà bị bắt về làm con dâu gạt nợ. Từ đó, cuộc đời khổ đau, bị bóc lột liên tục của Mị bắt đầu. Bên cạnh đó còn vô số những mảnh đời khác như A Phủ, người chị dâu của Mị, bố mẹ Mị… cũng bị như thế.

*Phân tích chứng minh

Phản ánh chế độ phong kiến miền núi tàn bạo, độc ác:

      – Tất cả đều được thể hiện qua đám cha con thống lí Pá Tra, A Sử và đám tay sai của chúng: bọn chức việc, lí dịch, thống quán… ở Hồng Ngài. Những cảnh ăn vạ và “xử kiện”, cảnh hút thuốc phiện, cảnh hành hạ A Phủ, trói Mị… đều thể hiện rõ điều này.

      – Chúng cho người dân vay nặng lãi, dùng cách cúng trình ma để hù dọa người dân, mỗi năm lãi càng thêm nhiều. Điển hình là gia đình Mị. Bố mẹ Mị chỉ vì muốn lấy được nhau mà phải vay nhà thống lí tiền để làm cơm mời cả làng, nếu không sẽ không được đồng ý. Món nợ ấy ngày qua ngày sinh lãi, lãi mẹ đẻ lãi con, đến khi mẹ Mị mất đi, bố Mị già rồi vẫn chưa hết. Mỗi năm nhà Mị đều phải trả tiền lãi là một nương ngô. Chính món nợ ấy cùng trò cúng trình ma khiến gia đình Mị không thể nào trốn được, khiến Mị mất đi tự do, bố Mị mất đi đứa con gái duy nhất. Hạnh phúc phải đánh đổi bằng cả cuộc đời, bằng tự do.

      – Vì đánh A Sử – đánh con quan, dẫu cho lí do có chính đáng, ấy nhưng người sai vẫn là A Phủ, phải chịu hình phạt nặng nề và xử kiện một cách oan uổng. A Phủ bị nhà thống lí khiêng mang về, trói và ném giữa nhà không khác gì đối xử với một con vật. Phiên tòa ấy được tiến hành một cách man rợ và khó hiểu. Suốt đêm chỉ nghe thấy tiếng mắng chửi, hình ảnh hút thuốc phiện, cứ xong một đợt thuốc là lại đánh A Phủ. Không được thanh minh, không được lên tiếng giải thích, cứ thế bị quy chụp cho cái mũ tội lỗi, nộp 100 đồng bạc trắng phạt vạ. Nhưng A Phủ nào có tiền, lại phải vay nhà thống lí. Và đó là lần đầu tiên A Phủ thấy nhiều tiền tới vậy, có lẽ cũng là lần cuối cùng được chạm tới tự do.

Bức tranh chân thực về cuộc sống thống khổ bị bóc lột của người dân miền núi bởi cường quyền và thần quyền thể hiện qua các nhân vật:

Nhân vật Mị:

      – Mị vốn là một cô gái người Mèo có đủ khả năng và điều kiện hưởng một cuộc sống hạnh phúc, có một tương lai tươi sáng. Ấy vậy nhưng không, món nợ truyền đời truyền kiếp của cha mẹ Mị, với những yêu cầu quá quắt của phong tục miền núi khiến Mị mất đi tự do, trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra.

      – Gọi là con dâu, nhưng lại là kiếp con dâu gạt nợ, chẳng khác gì một con ở không công đến suốt đời suốt kiếp cho nhà thống lí, không được ngơi nghỉ. Lúc nào cũng là “những việc giống nhau, mỗi năm một mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong lên núi hái thuốc phiện; giữa năm thì giặt đay; đến mùa đi nương bẻ bắp. Và dù đi hái củi, bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm, suốt đời thế. Con ngựa, con trâu làm có lúc, đêm còn được đứng gãi chân, nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này vùi vào việc cả đêm cả ngày.” Một cô gái ấy nhưng làm việc không ngơi nghỉ, ngày đêm làm việc, bị vắt kiệt sức lao động. Thậm chí Mị còn nghĩ mình không bằng cả con trâu, con ngựa bởi chúng nó còn có lúc được nghỉ ngơi, chăm sóc cẩn thận.

      + Căn phòng Mị ở chỉ là một căn buồng nhỏ kín mít, duy nhất có một “chiếc cửa sổ một lỗ vuông mờ mờ trăng trắng” chẳng rõ được là đêm hay là ngày.

      + Mị thậm chí còn bị đày đọa về tinh thần. Bản thân Mị và A Sử vốn không có lòng với nhau, vậy mà phải ở với nhau. A Sử đối với Mị chẳng khác gì chủ nhà với con ở: Trong đêm tình mùa xuân, Mị muốn đi chơi nhưng A Sử không cho. phũ phàng trói Mị lại ở góc cột, quấn tóc Mị vào cột để Mị không nghiêng đầu được. Và, ở nhà này đã từng có người bị trói đứng mà chết rồi. Ngay cả khi A Sử đi chơi về bị thương, Mị ra rừng lấy thuốc bôi cho A Sử, trong lúc mệt quá mà thiếp đi, Mị bị A Sử bị đạp xuống giường. Trong những đêm đông, thấy Mị ngồi thổi lửa hơ tay, A Sử đá Mị ngã…

      + Khổ, bị áp bức, bị bóc lột nhưng Mị không dám bỏ trốn, bởi Mị đã bị chúng nó đem đi cúng trình ma rồi. Mị đi đâu, con ma nhà thống lí sẽ theo tới đó bắt Mị trở lại. Cách duy nhất chỉ có một con đường chính là chết thôi, nhưng Mị không thể chết được. Sự mê tín vào thần quyền đã ràng buộc Mị lại cuộc sống không khác gì địa ngục này, vùng vẫy thế nào cũng không thể thoát ra được.

      => Từ một cô gái trẻ trung, Mị mất dần sức sống, trở thành loài thảo mộc chẳng còn biết rung rinh trước gió, bị ràng buộc. Mị đã bị tha hóa, thay đổi, trở thành nô lệ. Đau khổ quá người ta còn nghĩ đến cái chết, nhưng bản thân Mị đã tê liệt cảm xúc, như một cái xác không hồn không hề còn cảm giác gì nữa.

Nhân vật A Phủ

      – Sau khi thành con ở, A Phủ bị đọa đày về thân xác, làm hết việc này đến việc khác, đều là những việc vô cùng nguy hiểm. Đỉnh điểm hành động độc ác của chúng chính là khi A Phủ làm mất bò, con bò bị hổ tha đi mất, chúng mắng A Phủ là quân ăn cướp, bắt A Phủ tự tay lấy dây trói mình lại, đào hố chôn cọc, chờ khi nào tìm được con bò thì tính tiếp. Bò đã bị ăn mất rồi, làm sao tìm lại được nữa? Sự vô lí của giai cấp thống trị không khỏi khiến ta phẫn nộ vô cùng.

* Nhân vật khác

      – Người đàn bà trong gia đình nhà thống lí từng bị trói đứng ở cột rồi chết rũ, người chị dâu của Mị… tất cả những con người ấy dù không được kể ra rõ ràng nhưng ta cũng hiểu được họ đã phải trải qua những đau khổ đến thế nào.

* Đánh giá

      – Qua những mảnh đời đầy bất hạnh ấy, Tô Hoài đã lên án xã hội phong kiến cường quyền thần quyền độc ác đã đàn áp, bóc lột người dân lao động đến cùng cực, không còn đường lui. Tố cáo chế độ bất công, độc ác và ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân, tài sản của mình mà không màng đến tính mạng của người khác.

– Giá trị hiện thực khiến tác phẩm càng thêm sâu sắc, khắc họa rõ nét hơn cuộc đời khổ đau của vô số những mảnh đời nơi vùng núi Tây Bắc kia với bạn đọc.

c. Kết bài

      Khẳng định giá trị vai trò của giá trị hiện thực với tác phẩm và tác giả.

Ngoài ra, các em cùng tham khảo thêm bài văn mẫu phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ dưới đây nhé!

Giá trị hiện thực của vợ chồng A Phủ – Bài  mẫu 1

      Tô Hoài là một nhà văn thiên về phản ánh những sự thật của cuộc sống đời thường trong những trang viết bình dị, tinh tế và đầy chất thơ. Ông có vốn hiểu biết phong phú và sâu sắc về cuộc sống, đặc biệt là đối với những phong tục tập quán độc đáo của nhiều vùng đất khác nhau, có sự gần gũi, gắn bó với cuộc sống và con người miền núi khiến những đề tài miền núi trở thành mảng sáng tác quan trọng và có giá trị của Tô Hoài. Ông còn được mệnh danh là nhà văn của thiếu nhi với những tác phẩm với giọng văn tự nhiên, dễ hiểu như Dế Mèn phiêu lưu ký. Với khả năng xây dựng hình tượng nhân vật điển hình cùng lối viết chân thực, “Vợ chồng A Phủ” là tác phẩm mang giá trị hiện thực sâu sắc, đả kích và lên án sự bất công trong xã hội phân chia tầng lớp đã vùi dập con người đến tận cùng của khổ đau.

      Giá trị hiện thực là những điều diễn ra trong cuộc sống, được tác giả nhìn thấy và đưa vào tác phẩm một cách tinh tế tạo nên ý nghĩa phản ánh hiện thực của một thời kì, một chế độ trên nhiều góc độ khác nhau. Đây là yếu tố cốt lõi của một tác phẩm văn học, nhất là văn học hiện thực, là bức tranh phác họa cuộc sống một cách kĩ lưỡng nhằm nêu bật lên được những đặc điểm điển hình của một thời kì, giai cấp nào đó. Giá trị hiện thực của các tác phẩm văn học phần lớn đều mang tiếng nói chung của đại đa số quần chúng đương thời, là bản cáo trạng đối với những thói hư tật xấu và là tiếng lòng thổn thức của những người thấp cổ bé họng, không có tiếng nói trong xã hội bấy giờ.

      Đối với truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã tự mình thâm nhập vào cuộc sống của người dân Tây Bắc để thấm nhuần được suy nghĩ, cảm nhận xuất phát từ tấm lòng lương thiện của người dân nơi đây. Từ đó, ông thấu hiểu được nỗi đớn đau, tủi nhục ngày đêm day dứt. Thông qua ngòi bút và vốn hiểu biết của mình, tác giả Tô Hoài đã xây dựng cốt truyện với các nhân vật như một bức tranh sự thật, nói lên cuộc sống bi kịch của người dân lao động cần cù nơi đây cũng như vạch trần bộ mặt tàn ác của bọn cầm quyền. Truyện ngắn kể về số phận của nhân vật Mị, một cô gái xinh đẹp, hiền lành, chăm chỉ, hiếu thảo với bố mẹ nhưng bị bắt làm “con dâu gạt nợ” cho nhà thống lý Pá Tra vì món nợ bố mẹ để lại. Ở đó, cô làm việc quần quật cả ngày lẫn đêm, bị bòn rút hết sức sống và sự phản kháng, tưởng chừng như không có một lối nào thoát ra, và rồi cô gặp được A Phủ, là nạn nhân của nhà thống lý. Chứng kiến một số phận đau khổ giống mình, Mị như được tiếp thêm sức mạnh, dám đứng lên bỏ trốn cùng A Phủ đến sống ở một nơi khác, nơi mà họ được sống như là một con người thực thụ.

      Giá trị hiện thực của truyện ngắn được gột tả qua cuộc sống bi kịch của người dân lao động miền núi, điển hình là hình tượng nhân vật Mị và A Phủ. Khi nói đến nhân vật Mị, Tô Hoài chỉ giới thiệu tên, còn tuổi tác không hề nói đến, chỉ vỏn vẹn “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Người ta nói: nhà Pá Tra làm thống lý, ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Thế thì con gái nó còn bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buồn. Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái thống lý: cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lý.” Nét mặt buồn rười rượi của Mị như là lời tố cáo chân thực nhất về tội ác của cha con nhà thống lý đã đè nặng lên một kiếp người. Điều đó không chỉ gợi cho tác giả niềm đau xót đối với nhân vật mà còn là sự phẫn nộ, căm ghét đối với những kẻ ác chỉ biết lấy sức lao động của người khác để kiếm tiền.

      Cuộc sống của Mị ở nhà thống lý là điển hình, khái quát toàn bộ khó khăn, khổ đau mà nhân dân lao động miền Bắc phải chịu trước Cách mạng tháng Tám. Tác giả đã mượn nhân vật Mị để làm nổi bật lên hiện thực cay đắng, tủi nhục của những người dân hiền lành, chất phác phải chịu đựng. Khi bị bắt về làm con dâu gạt nợ, Mị từ một cô gái xinh đẹp trở thành “con rùa nuôi trong xó cửa”, lúc nào cũng cúi mặt, “mặt buồn rười rượi” lầm lũi, không nói năng gì. Chúng coi cô là công cụ lao động để làm giàu, “mỗi năm một mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong lên núi hái thuốc phiện; giữa năm thì giặt đay; đến mùa đi nương bẻ bắp. Và dù đi hái củi, bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm, suốt đời thế. Con ngựa, con trâu làm có lúc, đêm còn được đứng gãi chân, nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này vùi vào việc cả đêm cả ngày”. Một trong những chi tiết làm nổi bật lên chất hiện thực của tác phẩm chính là cảnh Mị bị trói ở cột nhà khi bị A Sử bắt được lúc Mị chuẩn bị đi chơi. Thực tế ta có thể thấy được rằng Mị là một cô gái còn trẻ trung xinh đẹp, dồi dào sức sống thì việc đi chơi trong đêm tình mùa xuân là điều hiển nhiên. Nhưng tia hi vọng đó cũng đã bị dập tắt khi cô bị người chồng của mình trói đứng vào cột nhà bằng sợi mây một cách tàn bạo. “Mị không nói. A Sử cũng không hỏi thêm. A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả một thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống. A Sử quấn luôn tóc lên cột, Mị không cúi, không nghiêng được đầu nữa. Trói xong, A Sử thắt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo rồi phẩy tay tắt đèn, đi ra khép cửa buồng lại.”, “Cả đêm Mị phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức”, “Cổ tay, đầu, bắp chân bị dây trói siết lại, đau đứt từng mảnh thịt.”. Tô Hoài không trực tiếp lên án xã hội cổ hủ lạc hậu, bất nhân, coi người như cỏ rác, nhưng thông qua hình ảnh của Mị, mọi đường nét thực tại đều được khắc họa một cách chân thực, rõ ràng. Hiện thực về cuộc sống lao động khổ đau, hiện thực về thân phận mòn mỏi, hiện thực về cái ác đang ngày ngày hiện hữu, tất cả đều được tác giả khai thác và phơi bày trước ánh sáng.

      Khi xây dựng hình tượng nhân vật A Phủ, Tô Hoài muốn phản ánh hiện thực về cuộc sống những người lao động tuy xuất thân thấp kém, không có địa vị nhưng rất chịu thương chịu khó. A Phủ từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, phải đi làm thuê cho nhà này sang nhà khác, mùa này sang mùa khác. Đến làm thuê cho nhà thống lý Pá Tra, khi anh làm mất một con bò, Pá Tra trói đứng anh vào cột, chờ khi có người mang hổ về mới tha cho. Bị trói đứng mấy ngày trời, không ăn, không uống, chịu rét, A Phủ kiệt sức, tưởng chừng như đã chết đến nơi. Từ một chàng trai khỏe mạnh, lạc quan, yêu đời, A Phủ trở thành con trâu cày không công cho nhà thống lý. Phải sống trong xã hội thối nát ấy, con người không còn có quyền sống như một con người nữa, tất cả đều bị phụ thuộc vào kẻ có quyền, có tiền. Số phận của những người dân lao động khu vực Tây Bắc trước Cách mạng tháng Tám là chuỗi ngày tháng đau thương, nơi con người bị vắt kiệt sức lao động.

      Nhân vật Mị và A Phủ chính là hiện thân của kiếp đời nô lệ dưới chế độ phong kiến được nhà văn Tô Hoài xây dựng từ những chất liệu hiện thực gần gũi nhất, thẳng thắn nhất. Qua hai nhân vật, tác giả gián tiếp khắc họa cuộc sống và số phận của người dân lao động trước Cách mạng, là tiếng nói mang tính tố cáo, lên án những kẻ lợi dụng chức quyền đã vùi dập con người, đứng trên lập trường của nhân dân, bảo vệ người dân lao động, tố cáo tội ác của quân thù và bọn bất lương. Qua tác phẩm, Tô Hoài cũng gửi gắm sự nâng niu, trân trọng đến nhân vật của mình hay chính là những người dân vùng núi phía Bắc, tìm kiếm sự lay động trong lòng độc giả khi chứng kiến những khó khăn, gian khổ mà nhân vật phải trải qua.

Giá trị hiện thực của vợ chồng A Phủ – Bài  mẫu 2

      Tô Hoài là một nhà văn chuyên viết truyện ngắn với bút lực dồi dào. Không chỉ nổi tiếng với tác phẩm viết cho thiếu nhi mà các tác phẩm của ông còn mang đậm nét văn hóa, lối sống, nếp cảm nếp nghĩ của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Tiểu biểu là tác phẩm: “Vợ chồng A Phủ”. Trong tác phẩm, người đọc thấy rõ được giá trị hiện thực sâu sắc mang dấu ấn thời đại

      Trước tiên, tác phẩm đã tố cáo tội ác của giai cấp thống trị. Trong truyện giai cấp cầm quyền ở Hồng Ngài chính là nhà thống lí Pá Tra. Gia đình thống lí lợi dụng cường quyền và thần quyền để áp bức những người dân lao động nghèo khổ. Tiêu biểu là Mị và A Phủ.

      Mị vốn là một cô gái dân tộc xinh đẹp và tràn đầy sức sống. Nhưng hoàn cảnh đưa đẩy khiến cô gái ấy trở thành con dâu gạt nợ của nhà Thống lí Pá Tra. Món nợ của bố Mị khi cưới mẹ Mị. Đây là món nợ truyền kiếp đối với người người lao động nghèo, nó chẳng khác gì một thứ tội: “tội tổ tông”. Đối với bọn phong kiến, đây là hình thức cho vay nặng lãi đẩy người lao động nghèo vào tình trạng bị bần cùng hóa. Gia đình thống lí lợi dụng hủ tục của miền núi (tục cướp vợ) để bắt cóc Mị. Bản thân cô Mị đang hồi hộp đêm hò hẹn đầu tiên, trong lòng đang ngập tràn hạnh phúc thì rơi xuống đáy sâu của nỗi bất hạnh. Bọn chúng còn lợi dụng tục “cúng trình ma” để hoàn chỉnh việc biến một người con gái xinh đẹp, có tài thổi sáo, hiếu thảo, chăm chỉ, tự trọng và nhất là yêu tự do, khát khao tình yêu trở thành một nô lệ. Thông qua đó, tác giả gián tiếp tố cáo sức mạnh của cường quyền và thần quyền đang đè nặng lên cuộc sống của nhân dân đồng bào miền núi.

      Không chỉ có Mị, A Phủ cũng là một chàng trai bị rơi vào hoàn cảnh bất hạnh không kém. A Phủ được giới thiệu là một người mồ côi, một thân một mình, bị bán xuống đồng tháp, trốn trở lại đồng cao rồi lưu lạc đến Hồng Ngài. Từ nhỏ, A Phủ đã gan bướng, dũng cảm. Chàng trai lao động giỏi, không ngại những việc nặng nhọc, nguy hiểm, là niềm mơ ước của bao cô gái. Tuy vậy, A Phủ vẫn đi chơi ngày tết, mơ ước tìm bạn kết đôi. Cho thấy đây là một chàng trai khao khát hạnh phúc và tình yêu. A Phủ như đứa con, như cánh chim của núi rừng Tây Bắc. Nhân vật A Phủ bị rơi vào hoàn cảnh bất hạnh qua vụ xử kiện vô lí của gia đình nhà thống lí Pá Tra. Từ vụ xử kiện này, A Phủ từ một chàng trai tự do yêu đời trở thành một nô lệ tàn đời mãn kiếp cho nhà thống lí. Nguyên nhân cũng chính vì A Phủ dám cả gan đánh A Sử. Bản án trong phiên xử kiện này: A Phủ ban đầu bị buộc tội chết rồi lại được tha. Với thống lí Pá Tra, A Phủ sống để làm việc trả nợ (nộp vạ 100 đồng bạc trắng). Chàng trai yêu tự do ngày nào bị biến thành con nợ truyền kiếp. Tuy sự việc khác nhau nhưng cách thức bị bó buộc và hành hạ về thể xác và tinh thần của hai nhân vật vốn không liên quan là Mị và A Phủ đều giống nhau. Đó là cách bọn cầm quyền, thống trị ở các địa phương đày đọa người dân trước khi được Cách mạng giải phóng. A Phủ bị bắt làm các công việc nặng nhọc nguy hiểm, trở thành nô lệ không công do món nợ không biết đến ngày nào mới trả hết. A Phủ cũng không dám nghĩ đến việc trốn do quyền lực khủng khiếp của nhà thống lí Pá Tra. Dù làm việc vất vả, khổ cực nhưng chỉ cần một sai lầm cũng khiến A Phủ phải chịu tội. Tai họa ập đến với A Phủ khi lỡ để hổ ăn mất một con bò. A Phủ bị trói vào cọc. Tính mạng của con người bị rẻ rúng chưa bằng một con vật. Nhà thống lí mất một con bò, nhưng A Phủ lại phải trả giá bằng mạng sống của mình. Đó là một hành động dã man, mất nhân tính của bọn thống trị, coi thường mạng sống của người lao động chân chính.

      Chính Mị Và A Phủ đều nghĩ rằng bản thân mình phải làm nô lệ, người ở cả đời cho nhà thống lí. Những suy nghĩ đó cũng bị chính sự tàn nhẫn, bất công của nhà thống lí dập tắt. Chúng sẵn sàng bắt trói, mặc kệ mạng sống của người lao động chỉ vì họ phạm lỗi. A Phủ làm mất một con bò và Mị muốn đi chơi.Trong đêm A Phủ bị trói, khi thấy A Phủ khóc. Giọt nước mắt của A Phủ đã khơi dậy niềm yêu thương và khao khát sống của Mị. Mị nhớ lại cảnh mình cũng bị trói. Mị nghĩ đến sự tàn ác của nhà thống lí với những người vô tội. Vì thế, Mị quyết định cởi trói cho A Phủ và quyết tâm chạy trốn khỏi “địa ngục trần gian”. Mị cởi trói cho A Phủ, cứu thoát A Phủ cũng là cứu thoát chính mình. Người dân lao động chẳng còn cách nào khác là tự giải thoát cho chính mình. Con đường họ đến với Cách mạng là tất yếu.

      Qua tác phẩm, người đọc thấy được giá trị hiện thực sâu sắc được thể hiện qua tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, càng thêm hiểu rõ cuộc sống cùng khổ của người dân lao động miền núi trước Cách mạng tháng 8 do sự thống trị tàn ác của giai cấp cầm quyền.

Đăng bởi: Đại Học Đông Đô

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button