Lớp 12Sinh Học

Mật độ của quần thể là

Câu hỏi: Mật độ của quần thể là

A. Số lượng cá thể cao nhất ở một thời điểm xác định nào đó trong một đơn vị diện tích hay thể tích của của quần thể

B. Khối lượng cá thể thấp nhất ở một thời điểm trên một đơn vị thể tích của quần thể

Bạn đang xem: Mật độ của quần thể là

C. Số lượng cá thể có trên một đơn vị diện tích hay thể tích

D. Số lượng cá thể trung bình của quần thể được xác định trong một khoảng thời gian xác định nào đó

Lời giải

Đáp án đúng: C. Số lượng cá thể có trên một đơn vị diện tích hay thể tích

Giải thích: Mật độ cá thể của quần thể là số lượng sinh vật của quần thể trên một đơn vị diện tích hay thể tích của quần thể. Số lượng sinh vật được tính bằng đơn vị cá thể (con, cây) hay khối lượng sinh vật (sinh khối) 

Mật độ cá thể của quần thể là đặc trưng cơ bản của quần thể, nó liên quan tới việc sử dụng nguồn sống, tỷ lệ tử ảnh hưởng tới kích thước quần thể

[CHUẨN NHẤT] Mật độ của quần thể là

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu chi tiết về mật độ của quần thể là nhé!

1. Khái niệm

Quần thể là nhóm cá thể của loài, phân bố trong vùng phân bố của loài, có khả năng sinh sản để cho các thế hệ mới hữu thụ thông qua con đường sinh sản dinh dưỡng, trinh sản hoặc con đường giao phối.

Những loài có vùng phân bố rộng thường hình thành nhiều quần thể. Đó là những loài đa hình (polymorphis). Những quần thể này có thể trao đổi các cá thể của mình với nhau thông qua con đường nhập cư và xuất cư. Trong tự nhiên có những loài được gọi là loài đơn hình (monomorphis), tức là loài chỉ hình thành một quần thể, phân bố hẹp trong điều kiện môi trường rất ổn định. Loài đơn hình dễ lâm vào hoàn cảnh bị suy thoái hoặc đến mức bị diệt vong khi môi trường biến động.

2. Quá trình hình thành quần thể:

– Một số cá thể cùng loài phát tán tới 1 môi trường sống mới.

– Những cá thể không thích nghi được với điều kiện sống mới của môi trường sẽ bị tiêu diệt hoặc phải di cư đi nơi khác.

– Những cá thể còn lại thích nghi dần với điều kiện sống.

– Giữa các cá thể cùng loài gắn bó chặt chẽ với nhau thông qua các mối quan hệ sinh thái dần dần hình thành quần thể ổn định, thích nghi với điều kiện ngoại cảnh.

3. Đặc trưng kích thước quần thể

– Khái niệm kích thước quần thể: Số lượng, sinh khối, năng lượng tích lũy trong phạm vi phân bố của quần thể.

+ Kích thước tối thiểu: Số lượng ít nhất duy trì sự tồn tại. Dưới kích thước tối thiểu thì quần thể không tồn tại (tiềm năng sinh học yếu: khả năng tự vệ kém, khả năng gặp gỡ giữa cá thể đực và cái thấp…

+ Kích thước tối đa: Kích thước lớn nhất mà quần thể có thể đạt được, vượt qua kích thước này, quần thể có thể xảy ra các trường hợp làm giảm sô lượng cá thể: tăng cường cạnh tranh, sức sinh sản giảm, di cư tăng…

– Khi kích thước quần thể vượt quá mức tối đa sẽ có những bất lợi sau:

+ Quan hệ hỗ trợ giữa những cá thể trong quần thể giảm, quan hệ cạnh tranh tăng.

+ Khả năng truyền dịch bệnh tăng → sự phát sinh các ổ dịch dẫn đến chết hàng loạt.

+ Mức ô nhiễm môi trường cao và mất cân bằng sinh học.

– Khi kích thước quần thể giảm xuống dưới mức tối thiểu sẽ có những bất lợi sau:

+ Quan hệ hỗ trợ giữa những cá thể trong quần thể giảm: tự vệ, kiếm ăn…

+ Mức sinh sản giảm: khả năng bắt cặp giữa đực và cái thấp, số lượng cá thể sinh ra ít, đặc biệt dễ xảy ra giao phối gần.

– Cách tính kích thước quần thể:

+ Phương pháp trực tiếp: Đối với quần thể của các cá thể không có khả năng di chuyển. Đếm trực tiếp trên các ô tiêu chuẩn.

+ Phương pháp gián tiếp: Đối với quần thể của các cá thể có khả năng di chuyển. Phương pháp chủ yếu: đánh bắt – thả bù theo công thức: C = (N1 x N2) / m

 C: kích thước quần thể.

 N1: số cá thể bắt được lần 1; N2: số cá thể bắt được lần 2; m: số cá thể bắt lần 2 có đánh dấu.

– Số l­ư­ợng cá thể hay kích thư­ớc quần thể đ­ư­ợc mô tả khái quát theo biểu thức:                                      

                                     Nt = No + B – D + I – E

Nt và No là kích thư­ớc quần thể ở thời điểm t và to; B: mức sinh sản; D: mức tử vong; I: mức nhập cư­; E: mức xuất cư­.

        Bốn yếu tố trên chi phối đến kích th­ước quần thể, nhưng B và D là 2 yếu tố cơ bản nhất, mang đặc tính vốn có của quần thể.

        Mức sinh sản của quần thể là số lượng con non được quần thể sinh ra trong một khoảng thời gian xác định, còn mức tử vong là số lượng cá thể của quần thể chết sau một khoảng thời gian xác định.

– Mức sống sót (Ss) của quần thể ngược với mức tử vong, tức là số cá thể còn sống đến một thời điểm nhất định, được biểu diễn bằng biểu thức dưới đây:

                      Ss = 1 – D

       I: kích thước quần thể được xem là một đơn vị;

       D: mức tử vong, D £ 1.

       Đường cong sống sót của quần thể thuộc các loài khác nhau được thể hiện ở hình 4.8. Những loài đẻ nhiều (hàu, sò), phần lớn bị chết ở những ngày đầu, số sống sót đến cuối đời rất ít (III). Những loài động vật cao cấp và người đẻ rất ít, con sinh ra phần lớn sống sót, chết chủ yếu ở cuối đời (I). Đường cong II, đặc trưng cho các loài, sóc, thuỷ tức vì ở chúng mức chết của các thế hệ gần như nhau.

       Trong tiến hoá, các loài đều hướng đến việc tăng mức sống sót nhờ biết chăm sóc trứng và con non (làm tổ, ấp trứng, bảo vệ trứng và con non), chuyển từ thụ tinh ngoài sang thụ tinh trong (động vật ở nước), đẻ con và nuôi con bằng sữa (động vật cao cấp).

       Khi nghiên cứu về sinh sản của quần thể, người ta còn dùng khái niệm “tốc độ sinh sản riêng” hay “tốc độ tái sản xuất cơ bản” (kí hiệu Ro), tức là số lượng con non được sinh ra tính trên đầu một cá thể cái ở một nhóm tuổi nào đó theo biểu thức sau: 

Lx: mức sống sót riêng, là số lượng cá thể trong nhóm tuổi x của quần thể sống sót đến cuối khoảng thời gian xác định (ngày, tháng, năm); mx: sức sinh sản riêng của nhóm tuổi x; dx: mức tử vong riêng cũng của nhóm tuổi x.

4. Quan hệ giữa các cá thể trong quần thể 

a. Quan hệ hỗ trợ

– Là mối quan hệ giữa các cá thể cùng loài hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động sống như: tìm thức ăn, chống kẻ thù, sinh sản…

– Ví dụ: Các cây thông nhựa liền rễ nhau → Cây sinh trưởng nhanh và khả năng chịu hạn tốt hơn; Chó rừng hỗ trợ nhau trong đàn → Bắt mồi và tự vệ tốt hơn.

– Ý nghĩa: Quan hệ hỗ trợ giữa các cá thể trong quần thể đảm bảo cho quần thể tồn tại ổn định, khai thác tối ưu nguồn sống của môi trường, làm tăng khả năng sống sót và sinh sản của các cá thể.

b. Quan hệ cạnh tranh

– Nguyên nhân: Cạnh tranh xuất hiện khi mật độ cá thể của quần thể tăng lên quá cao, nguồn sống của môi trường không đủ cung cấp cho mọi cá thể trong quần thể.

– Các hình thức cạnh tranh:

+ Cạnh tranh giành nguồn sống như nơi ở, ánh sáng, thức ăn… giữa các cá thể cùng một quần thể.

+ Cạnh tranh giữa các con đực tranh giành con cái trong đàn hoặc ngược lại.

– Ý nghĩa: Nhờ có cạnh tranh mà số lượng và sự phân bố của các cá thể trong quần thể duy trì ở mức độ phù hợp, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của quần thể.

– Ví dụ:

+ Hiện tượng tự tỉa thưa ở thực vật.

+ Khi thiếu thức ăn một số động vật ăn thịt lẫn nhau.

+ Cá mập con khi mới nở ra, sử dụng ngay các trứng chưa nở làm thức ăn.

Đăng bởi: Đại Học Đông Đô

Chuyên mục: Lớp 12, Sinh Học 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button