Lịch SửLớp 7

Nhiệm vụ của cấm quân là gì?

Câu hỏi: Nhiệm vụ của cấm quân là gì?

A. Quân phòng vệ biên giới

B. Quân phòng vệ các lộ

Bạn đang xem: Nhiệm vụ của cấm quân là gì?

C. Quân phòng vệ các phủ

D. Quân bảo vệ vua và kinh thành

Trả lời: 

Đáp án D. Quân bảo vệ vua và kinh thành

– Nhiệm vụ của cấm quân là bảo vệ vua và kinh thành

Cùng Top tài liệu tìm hiểu nội dung về Cấm quân trong các thời kì dưới đây nhé! 

1. Cấm quân thời Lý

– Cấm quân thời Lý còn có tên gọi khác là “thiên tử binh”, đồng thời các binh lính thuộc Cấm quân cũng được xăm ba chữ “Thiên Tử Binh” trên trán, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của các tướng lĩnh dưới quyền chỉ huy của vua. Cấm quân thời kỳ này không được thống nhất về tổ chức biên chế, mà tùy theo từng đời vua sẽ được tổ chức khác nhau.

– Cấm quân được chia làm các vệ, mỗi vệ có từ 200 đến 500 người. Dưới các vệ là các đô, hỏa. Mỗi đô có khoảng 100 người.

– Dưới triều vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028), Cấm quân có khoảng 3000 người, được chia thành 6 vệ, mỗi vệ biên chế 500 người. Các quân được đặt tên là Quảng Thành, Quang Vũ, Ngự Long, Phủng Nhật, Trừng Hải.

– Dưới triều vua Lý Thái Tông (1028 – 1054), Cấm quân có khoảng 2000 người, được chia thành 10 vệ, mỗi vệ biên chế 200 người.

– Sang triều vua Lý Thánh Tông (1054 – 1072), khoảng 3200 người, được chia thành 16 vệ, mỗi vệ biên chế 200 người..

– Các binh lính trong Cấm quân được tuyển chọn từ các trai tráng khỏe mạnh nhất trong cả nước. Căn cứ vào mức độ tin cậy và tài nghệ của các binh lính mà Cấm quân được chia thành hai loại: Quân Ngự tiền và quân Điện tiền. Quân Ngự tiền làm nhiệm vụ bảo vệ nơi ở của vua (tẩm cung, ngự thư phòng), trong khi đó, quân Điện tiền lại làm nhiệm vụ bảo vệ cấm thành (toàn bộ cung thành).

– Đứng đầu Cấm quân là chức thiếu úy. Riêng toán quân trực ở trước điện vua thì do điện tiền đô chỉ huy sứ đứng đầu. Đứng đầu các vệ thì có các cấp tướng như: Tả hữu kim ngô vệ tướng quân, Kim ngô độ lãnh binh sứ, Tả hữu vệ tướng quân, Đinh thắng thượng tướng quân, Đại tướng quân, Tướng quân.

2. Cấm quân thời Trần 

– Những thông tin về cấm quân thời Trần trong chính sử còn hạn chế. Chỉ biết vào năm 1239, vua Trần Thái Tông ra lệnh cải tổ quân đội cả nước, chia quân làm 3 bậc Thượng, Trung và Hạ. Trong đó, cấm quân thuộc bậc Thượng, đóng quanh khu vực kinh đô Thăng Long và hành cung Thiên Trường (đất tổ nhà Trần) để bảo vệ triều đình và hoàng gia và đóng vai trò “xương sống” trong quân đội cả nước. Cấm vệ quân được tuyển chọn kĩ lưỡng từ tráng đinh trên cả nước, phải trải qua sự huấn luyện hà khắc nhất và trang bị những binh khí tốt.

– Giống như thời Lý, cấm quân có binh lực đông đảo nhất trong cả nước, lúc cực thịnh có thể lên đến 10 vạn, nhằm đảm bảo sự phục tùng của các địa phương với triều đình trung ương, đồng thời đủ sức trấn áp mọi thế lực cát cứ, nội loạn trong nước. Bởi lẽ đó, cấm quân luôn được triều đình chú trọng phát triển. Không chỉ được cung cấp áo giáp, binh khí thượng hạng, cấm quân còn được hưởng bổng lộc cao hơn các lực lượng khác, thậm chí gia quyến cũng được cấp dưỡng chu đáo, tạo điều kiện cho quân sĩ chuyên tâm bảo vệ triều đình và tận trung với vua. Vì vậy, chính sách “ngụ binh ư nông” thường không áp dụng cho cấm quân, khiến việc duy trì lực lượng này trở nên tốn kém ngân sách của triều đình. Có thể nói, sự hùng mạnh của cấm quân phụ thuộc sự phồn vinh của triều đình nhà Trần.

Nhiệm vụ của cấm quân là gì (ảnh 2)

– Theo sử sách ghi chép lại, cấm quân của Đại Việt luôn xăm lên trán 3 chữ “Thiên Tử quânChỉ huy của cấm quân là Điện tiền chỉ huy sứ thường do người tôn thất đảm nhiệm. Cấm quân trên một phương diện nhất định có thể xem như là tư binh của hoàng đế, bởi chỉ huy của họ tuyệt đối trung thành với vua. Vì thế, mệnh lệnh điều động của Binh bộ không có tác dụng với cấm quân

3. Cấm quân thời Nguyễn

Giai đoạn 1 (1802 – 1883), Cấm quân của một một vương triều độc lập tự chủ.

– Cấm quân nhà Nguyễn đóng ở kinh thành Phú Xuân (Huế) gọi là Vệ binh, có nhiệm vụ chính là bảo vệ kinh đô và vua Nguyễn. Hệ thống tổ chức và biên chế cơ bản của Vệ binh gồm có:

– Một Ngũ gồm 5 người, do Ngũ trưởng đứng đầu

– Một Thập gồm 10 Ngũ, do Chánh đội trưởng đứng đầu

– Một Đội gồm Thập, do Suất đội đứng đầu

– Một Vệ gồm 10 Đội, do Vệ úy đứng đầu

– Một Doanh gồm 5 Vệ

Vệ binh quân Nguyễn có khoảng 40.000 người, được chia thành ba bộ phận gồm Thân binh, Cấm binh và Giản binh:

– Thân binh (cận vệ của vua và bảo vệ Cấm thành), gồm 1 doanh và 4 vệ độc lập

– Cấm binh làm nhiệm vụ cơ động và bảo vệ Kinh thành, bao gồm 6 doanh và một số vệ, đội độc lập như:

Tượng binh, kỵ binh, thủy binh.

– Giản binh hay Tinh binh bao gồm một số vệ và đội thuộc các phủ, huyện, nha..

Giai đoạn 2 (1884 – 1945), Cấm quân của một quốc gia phong kiến bị mất quyền tự chủ.

Vệ binh thời Nguyễn thường tuyển những người Đàng Trong, đến năm 1885, sau khi nhà Nguyễn lệ thuộc hoàn toàn vào Pháp thì lực lượng này tan rã, chỉ còn lại một số nhỏ gọi là Thân binh với biên chế khoảng 2000 quân để hầu cận các vua.

– 2000 Thân binh này bao gồm 4 vệ và 1 đội quân nhạc công để phục vụ các lễ nghi cung đình (50 nhạc công).

Đăng bởi: Đại Học Đông Đô

Chuyên mục: Lớp 7, Lịch Sử lớp 7

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Check Also
Close
Back to top button