Lớp 11Ngữ Văn

Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương ( siêu ngắn)

Ngoài 2 bản Soạn bài Chi tiết và Ngắn nhất, các thầy cô giáo tại TOPLOIGIAI giới thiệu đến các bạn thêm bản Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương siêu ngắn gọn, hi vọng bản soạn văn 11 siêu ngắn sẽ giúp các bạn học tập tốt hơn

Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương – Bản 1

Bố cục

Bố cục: 2 phần

– Phần 1 (4 câu đầu): Quan niệm mới về chí làm trai, cùng ý thức của cái tôi đầy trách nhiệm.

Bạn đang xem: Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương ( siêu ngắn)

– Phần 2 (còn lại): Ý thức được nỗi nhục mất nước, sự lỗi thời của nền học vấn cũ, đồng thời thể hiện khát vọng hăm hở, dấn thân trên hành trình cứu nước.

Nội dung chính

Lưu biệt khi xuất dương khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước.

Câu 1 (trang 5 SGK Ngữ Văn 11 tập 2):

Bối cảnh ra đời bài thơ:

– Bối cảnh trong nước:

 + Từ cuối thế kỉ XIX, đất nước hoàn toàn rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp.

 + Phong trào yêu nước Cần Vương và nhiều cuộc khởi nghĩa yêu nước rơi vào thất bại.

 + Chế độ phong kiến hoàn toàn bất lực, trở thành bộ máy phục vụ cho thực dân.

 + Hệ tư tưởng phong kiến trở nên lạc hậu và vô dụng trước hoàn cảnh đất nước.

– Ảnh hưởng từ nước ngoài: Con đường dân chủ tư sản tràn vào nước ta.

Câu 2 (trang 5 SGK Ngữ Văn 11 tập 2):

– Quan niệm mới về chí làm trai và tư thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ:

+ Chí làm trai phải lạ ở trên đời: phải làm nên những điều hiển hách, phi thường, quyết không sống mờ nhạt, buông xuôi, tầm thường.

+ Tư thế kì vĩ, tầm vóc sánh ngang vũ trụ, tự tin há để càn khôn tự chuyển dời: vượt lên số phận, làm chủ nghịch cảnh, đương đầu với càn khôn.

– Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc:

+ Ý thức cống hiến, khát vọng thực hiện lí tưởng cao cả của cái “tôi” công dân đầy trách nhiệm.

+ Tư tưởng “trăm năm cần có tớ” khẳng định giá trị cá nhân và khát khao đóng góp cho đất nước.

– Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước và những tín điều xưa cũ:

+ Cái nhìn thẳng vào hiện thực, vào tình cảnh đất nước.

+ Thái độ quyết liệt khi khẳng định tư tưởng cũ kĩ của phong kiến.

– Khát vọng hành động và tư thế lên đường:

+ Tư thế lên đường của người anh hùng, chí sĩ kì vĩ, lãng mạn, bay bổng, hào hùng.

+ Khát vọng ra đi tìm đường cứu nước lớn lao, khí thế hăm hở, phấn chấn.

Câu 3 (trang 5 SGK Ngữ Văn 11 tập 2):

Đối chiếu bản dịch thơ và nguyên tác hai câu 6 và 8:

– Câu 6: Nêu được ý phủ nhận nhưng làm giảm nhẹ khí phách ngang tàng, thái độ quyết liệt, dứt khoát của Phan Bội Châu trong việc khẳng định sự lạc hậu, vô dụng của sách vở Nho gia trong hoàn cảnh thời đại, đất nước lúc bấy giờ.

– Câu 8: Câu thơ dịch gợi không khí êm đềm, không toát lên tính chất sử thi hoành tráng, khung cảnh tráng lệ khi vũ trụ tiếp sức, chắp cánh cho con người vút bay tới chân trời của mơ ước, của lí tưởng.

Câu 4 (trang 5 SGK Ngữ Văn 11 tập 2):

Những yếu tố tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ:

– Tư tưởng mới mẻ, táo bạo, mang tính tiên phong cho thời đại:

+ Chí làm trai phóng khoáng, lớn lao.

+ Cái tôi công dân đầy tinh thần trách nhiệm với non sông.

– Khí phách ngang tàng, sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách.

– Giọng thơ tâm huyết, sôi sục, hào hùng.

– Tư thế con người kì vĩ, hoành tráng gắn với lí tưởng cao cả.

Luyện tập

Câu hỏi (trang 5 SGK Ngữ văn 11 tập 2):

 Tham khảo đoạn văn sau:

   “… Đến hai câu kết thì những nét bút kì vĩ cuối cùng đã hoàn thiện hành động kiệt xuất của một cuộc đời kiệt xuất:

   Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,

   Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

   Sáu câu thơ trên gợi ra những suy nghĩ, những lựa chọn, những chuẩn bị trong tâm lí, trong tư tưởng của một con đại bàng. Ở hai câu này, chúng ta thấy con đại bàng ấy đang tung đôi cánh mênh mông của mình bay thẳng ra trùng dương, đối mặt với hết thảy những giông tố, bão bùng. Câu thơ gợi ta nhớ đến tư thế con chim lớn trong thơ Quận He: “Bay thẳng cánh muôn trùng tiêu Hán – Phá vòng vây bạn với kim ô”. Nhưng câu thơ của Phan Bội Châu không còn là một hình ảnh ước lộ nữa. Bởi phong trào Đông Du mà ông là người chủ trương, bởi việc xuất dương mà ông là người khởi sự chính là những hành động phi thường của những bậc trượng phu sẵn sàng ném đời mình vào muôn trùng sóng bạc ra khơi tìm đường làm sống lại “giang sơn đã chết”, tìm cách xoay chuyển càn khôn.

  Bài thơ kết thúc bằng câu thơ đầy hùng tâm tráng chí mà câu thơ dịch chưa thể chuyển tải hết được:

   Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

 (Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi)

   Như vậy, làm trang nam nhi không phải là bằng mọi cách để lưu danh sử sách, khẳng định cá nhân. Mà cá nhân ấy phải làm nên việc phi thường, ấy là việc kinh bang tế thế, cứu dân cứu nước. Khát vọng sống cao cả của Phan Bội Châu ở đây, một lần nữa, giúp ta hiểu được cái cốt cách vĩ đại của con người kiệt xuất này”.

(Phan Huy Dũng, Phân tích bình giảng tác phẩm văn học II, NXB Giáo dục, 2006)

Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương – Bản 2

Câu 1 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Qua tiểu dẫn:

– Bối cảnh lịch sử đất nước:

    + Đất nước đang lâm vào tình trạng nguy nan, bị giặt chiếm đóng.

    + Nhiều phong trào yêu nước của các sĩ tử yêu nước bị thất bại, nhân dân nản chí, những anh hùng cứu nước bị hi sinh.

    + Con đường cứu nước bế tắc.

– Những ảnh hưởng từ nước ngoài để hiểu bài thơ: ảnh hưởng từ Trung Hoa, Nhật Bản đã tác động đến dân tộc ta rất sâu sắc.

Câu 2 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

a. Hai câu đề.

– Khẳng định chí làm trai, lẽ sống cao đẹp.

– Phải lạ: Phải biết sống cho phi thường, biết mưu đồ việc lớn, xoay chuyển càn khôn, lưu lại tiếng thơm cho muôn đời.

– Đã làm trai phải tích cực, chủ động trong cuộc sống, không chịu khuất phục trước số phận, trước hoàn cảnh.

=> Lí tưởng ấy tạo cho con người tư thế mới, khoẻ khoắn, ngang tàng, ngạo nghễ, chứ không tầm thường, buông xuôi theo số phận.

b. Hai câu thực.

– Tác giả tự ý thức về cái tôi – tự hào về vai trò của mình trong cuộc đời và trong lịch sử.

– Chí làm trai gắn với cái tôi trách nhiệm đáng kính. Giữa cuộc sống tối tăm mà có được cái tôi ấy quả là cứng cỏi và đẹp đẽ vô cùng.

– Câu hỏi tu từ có tính chất khẳng định, giục giã.

=> Quan niệm chí làm trai của Phan Bôi Châu mới mẻ tiến bộ và nhân văn.

c. Hai câu luận.

– Nêu bật một quan niệm sống đẹp đẽ của kẻ sĩ trước thời cuộc và lịch sử dân tộc: Đau về nỗi nhục mất nước, phủ nhận cách học cũ kỹ, lạc hậu (đọc sách thánh hiền – đạo Nho ) không hợp thời, vô nghĩa trong buổi nước mất nhà tan.

=> Tư tưởng sâu sắc, tiến bộ nhất, thể hiện khí phách ngang tàng, táo bạo, của nhà cách mạng tiên phong, có tinh thần trách nhiệm cao độ trong thời đại mới.

d. Hai câu kết.

– Tư thế hăm hở ra đi tìm đường cứu nước. Thể hiện một khát vọng lớn, một sự hoà nhập với vũ trụ bao la.

– Con người là trung tâm lồng lộng giữa trời biển mênh mông, như đang bay lên cùng muôn ngàn con sóng

– Hình ảnh lãng mạn, hào hùng, giàu chất sử thi.

Câu 3 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Lời dịch của hai câu 6 và 8 so với nguyên tác đã có phần chưa sát nghĩa, cụ thể:

– Câu 6: Câu thơ dịch là “học cũng hoài” chỉ thể hiện được ý phủ nhận mà chưa thể hiện rõ cái tư thế, khí phách ngang tàng, dứt khoát của tác giả.

– Câu 8: Câu thơ dịch chưa khắc họa được rõ nét tư thế và khí thế hùng mạnh, bay bổng như nguyên tác: “nhất tề phi” – “cùng bay lên”.

Câu 4 (trang 5 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Tình yêu quê hương, đất nước của con người

– Lí tưởng sống, lẽ sống cao đẹp, tiến bộ.

– Tư thế con người kì vĩ, sánh ngang tầm vũ trụ.

– Niềm khao khát, đương đầu vào thử thách.

– Gọng thơ thay đổi tài tình và linh hoạt.

Luyện tập

Cảm nhận về nghệ thuật trong hai câu cuối của bài thơ.

    + Không gian: biển Đông rộng lớn.

    + Hình ảnh kĩ vĩ lớn lao: Trường phong (ngọn gió dài); Thiên trường bạch lãng (ngàn lớp sóng bạc).

    + Tư thế của con người sánh ngang tầm vũ trụ: Nhất tề phi (cùng bay lên).

    + Lối nói nhân hóa “thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”.

=> Hình ảnh đầy lãng mạn nhưng cũng rất hào hùng, thể hiện lời nguyện thề dứt khoát, thiêng liêng, dạt dào niềm lạc quan, phơi phới niềm tin.

Soạn bài Lưu biệt khi xuất dương – Bản 3

Bố cục

Phân tích theo cấu trúc thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật:

– Hai câu đề: Những suy nghĩ, quan niệm mới mẻ về chí làm trai cùng vị thế của con người trong vũ trụ.

– Hai câu thực: Khẳng định trách nhiệm, ý thức cá nhân trước xã hội, thời cuộc.

– Hai câu luận: Lời tự bạch về nỗi tủi nhục và thái độ quyết liệt của sĩ phu trước tình cảnh nước mất.

– Hai câu kết: Khát vọng lớn và tư thế hiên ngang của ngày lên đường.

Nội dung bài học

Nội dung

    + Bài thơ đã khắc họa thành công hình ảnh và khí phách hào hùng, tư tưởng mới mẻ, của nhà thi sĩ cách mạng khi quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước.

    + Khát vọng được cống hiến hết mình cho đất nước của thi sĩ và niềm tin vào tương lai độc lập.

Nghệ thuật

    + Sử dụng ngôn từ khoáng đạt, các động từ mạnh, tình thái từ có tác dụng biểu đạt ý cao.

    + Hình ảnh thiên nhiên kì vĩ, có sức gợi mở.

    + Giọng thơ sâu lắng mà hào sảng, sục sôi.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 5 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Bối cảnh đất nước những năm cuối thế kỉ XIX:

    + Phong trào Cần Vương thất bại.

    + Chế độ phong kiến sụp đổ, chính quyền lọt vào tay giặc.

    + Con đường cứu nước theo tư tưởng phong kiến rơi vào bế tắc.

– Ảnh hưởng từ nước ngoài: Tư tưởng dân chủ tư sản ảnh hưởng khắp thế giới, bắt đầu đi vào nước ta.

→ Phan Bội Châu sáng tác bài thơ vào năm 1905 sau khi quyết định sang Nhật.

Câu 2 (trang 5 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2):

– Tư duy mới mẻ, táo bạo được thể hiện qua quan niệm mới về chí làm trai và tầm vóc, vị thế của con người trong vũ trụ:

    + Nam nhi không chỉ dừng lại ở việc lập công danh mà còn phải “phải lạ”, không chấp nhận cuộc sống theo số phận sắp đặt, sẵn sàng xoay chuyển càn khôn.

    “Sinh vi nam tử yếu hi kì

    Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”.

→ Nam nhi phải tin tưởng vào tài chí của bản thân mình.

    + Khẳng định cá nhân phải có ý thức, trách nhiệm với đất nước chứ không chỉ có trách nhiệm với cuộc sống của mình.

    “Ư bách niên trung tu hữu ngã

    Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”.

→ Nêu cao tinh thần, vai trò của bản thân, mong được cống hiến hết mình cho đất nước.

Khích lệ, động viên những cá nhân khác nghĩ tới tương lai.

    + Chí trai không chỉ suy nghĩ riêng cho bản thân còn phải gắn chặt với sự tồn vong của đất nước.

Thi sĩ dám từ bỏ lối suy nghĩ cũ mòn, tiếp nhận tri thức mới, hợp với thời cuộc.

    “Giang Sơn tử hĩ sinh đồ nhuế

    Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”.

→ Lời tự bạch về nỗi tủi nhục của sĩ phu mất nước

Tư tưởng táo bạo, thái độ quyết liệt của một nhà cách mạng tiên phong.

– Khát vọng hành động của nhà thi sĩ cách mạng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước:

    “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”.

    + Hình ảnh: “Trường phong”, “Đông hải”, “thiên trùng bạch lãng”: Hình ảnh thiên nhiên kì vĩ, mang tầm vóc vũ trụ.

    + Hành động: “Nguyện trục”, “nhất tề phi”: Muốn vượt biển, cùng bay lên với muôn ngàn con sóng để vươn ra đại dương.

→ Hình ảnh mang đậm chất sử thi lãng mạn nhưng lại hào hùng, thể hiện sự hào sảng trong giọng điệu, sự hiên ngang trong khí thế, tin tưởng vào tương lai của người thi sĩ cách mạng.

Câu 3 (trang 5 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2):

Hai câu 6 và 8 của bản dịch thơ so với nguyên tác chưa dịch hết được ý nghĩa.

– Câu 6:

“Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si” – Nguyên tác

“Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài” – Dịch thơ

    + “Học cũng hoài” trong bản dịch thơ chỉ mang ý nghĩa phủ nhận rằng đất nước suy vong có học cũng vô ích.

    + Bản phiên âm “Có học cũng ngu thôi” không chỉ phủ nhận còn khẳng định khí phách ngạo nghễ, ngang tàng, tư tưởng mới táo bạo về sự học của thi sĩ khi đất nước suy vong.

– Câu 8:

“Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi” – Nguyên tác

“Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi” – Dịch thơ

    + Bức tranh thiên nhiên trong nguyên tác hùng vĩ trong tâm thế hào sảng, mong làm nên nghiệp lớn của thi sĩ cách mạng.

“Nhất tề phi” nghĩa “cùng bay lên” lại được dịch thành “tiễn ra khơi”.

    + Bức tranh thiên nhiên trong bản dịch thơ gợi mở sự êm ả, có phần bình lặng, chưa lột tả được hết khí phách ngang tàng, sự phi thường của thi sĩ như bản nguyên tác.

Câu 4 (trang 5 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2)

Những yếu tố tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của bài thơ:

– Tư tưởng về chí làm trai mới mẻ, đầy táo bạo.

– Khát vọng sống mãnh liệt, hào hùng.

– Khí phách ngang tàng, sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách, khó khăn.

– Lòng yêu nước sâu sắc, ý thức trách nhiệm cao với sự tồn vong của đất nước.

– Giọng thơ sâu lắng mà hào sảng, sục sôi.

Luyện tập

Câu hỏi luyện tập (trang 5 SGK Ngữ Văn 11 Tập 2)

Khi viết đoạn văn cảm nhận về nghệ thuật của 2 câu thơ cuối bài, cần lưu ý sử dụng bản nguyên tác:

– Những hình ảnh thiên nhiên kì vĩ: “trường phong”, “Đông hải”, “thiên trùng bạch lãng”.

– Tư thế của thi sĩ cách mạng: “Nhất tề phi”.

→ Chú ý nêu bật được hình ảnh hào hùng, khí phách ngang tàng nhưng cũng không kém phần lãng mạn. Đồng thời làm rõ khát vọng lớn lao, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tìm con đường cứu nước.

Đăng bởi: Đại Học Đông Đô

Chuyên mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button