Lớp 12Ngữ Văn

Soạn bài Ông già và biển cả – Hê-Minh-Uê siêu ngắn hay nhất

Hướng dẫn Soạn bài Ông già và biển cả – Hê-Minh-Uê siêu ngắn gọn. Với bản soạn văn 12 siêu ngắn gọn này các bạn sẽ chuẩn bị bài trước khi đến lớp nhanh chóng và nắm vững nội dung bài học dễ dàng nhất.

Soạn bài Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê) siêu ngắn – Bản 1

Bố cục

2 phần

– Phần 1 (từ đầu … “ông lão và con thuyền”): Cuộc chiến đấu của ông lão Xan-ti-a-gô.

Bạn đang xem: Soạn bài Ông già và biển cả – Hê-Minh-Uê siêu ngắn hay nhất

– Phần 2 (còn lại): Xan-ti-a-go chiến thắng trở về.

Nội dung bài học

   Hình ảnh ông lão đánh cá đơn độc dũng cảm săn đuổi con cá lớn nhất đời là một biểu tượng về vẻ đẹp của ước mơ và hành trình gian khổ của con người để biến ước mơ thành hiện thực. Sự chuyển hóa từ bức tranh với những nét trần trụi, chân thực, giản dị sang một lớp nghĩa hàm ẩn, rộng lớn là sự thể hiện nguyên lí sáng tác của ông: tác phẩm nghệ thuật như một “tảng băng trôi”.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

Qua các vòng lượn: Hình ảnh con cá với các vòng lượn (lặp đi, lặp lại)

– Vòng lượn vẽ lên những cố gắng cuối cùng nhưng cũng rất mãnh liệt của con cá:

   + Nó cố gắng thoát khỏi sự níu kéo, bủa vây của người ngư phủ.

   + Nó cũng dũng cảm, kiên cường không kém gì đối thủ.

⇒ Sự cố gắng cuối cùng mãnh liệt trong cuộc đấu tranh sinh tồn của con cá.

Câu 2 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

⇒ Cảm nhận từ xa đến gần, từ gián tiếp đến trực tiếp, từ bộ phận đến toàn thể . Qua đó tác giả khắc họa vẻ đẹp dũng mãnh của con cá

Top 3 Soạn bài Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê) ngắn nhất Biểu tượng cho thiên nhiên kì vĩ

Câu 3 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

Sự cảm nhận khác lạ của ông lão qua cuộc trò chuyện với con cá.

– Ông lão không chỉ cảm nhận con cá bằng thị giác và xúc giác, không chỉ bằng động tác mà còn bằng cả trái tim, sự cảm thông.

Soạn bài Ông già và biển cả - Hê-Minh-Uêsiêu ngắn hay nhất | Soạn văn 12 siêu ngắn (ảnh 2)

⇒ Quan hệ:

   + Người đi săn và con mồi

   + Hai kì phùng địch thủ

   + Hai người bạn

   + Con người và môi trường

   + Con người và cái đẹp, cái mơ ước.

– Nhà văn miêu tả vẻ đẹp con cá là để đề cao vẻ đẹp của con người. Ông lão Xan-ti-a-gô là biểu tượng cho vẻ đẹp của Con người: thật giản dị và cũng thật ngoan cường trên hành trình sinh tồn và chinh phục đỉnh cao khát vọng

⇒ Con cá kiếm là hình ảnh biểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên kì vĩ. Nó cũng là biểu tượng cho ước mơ khát vọng rất bình thường giản dị nhưng cũng vô cùng cao cả, kì diệu của con người.

Câu 4 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

* Hình ảnh con cá kiếm trước và sau khi ông lão chiếm được nó:

Con cá trước khi chết Con cá sau khi chết

– Chỉ riêng cái bóng đen của nó cũng khiến ông lão – một người đi biển cừ khôi cũng phải kinh ngạc

– Khôn ngoan, kiên cường và có sức chịu đựng tốt.

⇒ Con cá có sức mạnh ghê gớm, sự oai phong và kì vĩ.

Dường như không chấp nhận cái chết, nó “phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Con cá trắng bạc, thẳng đơ và bồng bềnh theo sóng.

⇒ Ngay cả khi đối mặt với cái chết, con cá vẫn thể hiện được sự kiêu hãnh, oai hùng.

* Biểu tượng của con cá kiếm:

   – Khát vọng, lí tưởng của con người.

   – Hành trình thực hiện ước mơ của con người.

   – Hình ảnh cá kiếm chi chết: kết thúc chinh phục một khát vọng của con người ⇒ một hành trình mới lạ bắt đầu.

* Qua biểu tượng con cá kiếm gợi cho chúng ta bài học cần phải theo đuổi ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực.

Luyện tập

Câu 1 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

– Trong văn bản, nhiều lần tác giả sử dụng cụm từ lão (ông lão) nghĩ: 24 lần (15 lần trước và 9 lần sau khi giết con cá kiếm). Những hình thức này là dấu hiệu của hình thức độc thoại nội tâm của nhân vật.

– Nhà văn xây dựng nhân vật ông lão là một nhân vật tâm trạng, một người khiêm tốn , biết lo xa và tài trí: có 18 lần nhà văn sử dụng cụm từ lão (ông lão), nói, lão hứa với tính chất đối thoại. Nhưng trong tác phẩm, những lời nói của ông lão cũng chính là những lời độc thọai nội tâm được đối thoại hóa. Ông lão tự phân thân nói với chính mình để tự động viên chính mình nỗ lực chiến đấu.

⇒ Thể hiện sự kiên trì, ngoan cường, quyết tâm của ông lão. Qua đó, Hê – Minh – Uê ca ngợi vẻ đẹp về con người: “Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”.

Câu 2 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

   Cách dịch Ông già và biển cả tạo nên sự cân xứng về nhịp điệu tiêu đề. Sự đối lập giữa hai đối tượng một người già cả >< biển lớn mênh mông, dữ dội. Tiêu đề nói lên: sức lực có hạn của con người >< cái vĩ đại bất tử của thiên nhiên.

Soạn bài Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê) siêu ngắn – Bản 2

I. Tác giả và tác phẩm

1. Tác giả

– O – nit Hê – ming – uê (1899- 1961): Sinh ra ở Oak Pác, bang I-li-noi, trong một gia đình trí thức.

– Được xem là một trong 2 nhà văn vĩ đại của nước Mĩ thế kỉ XX, để lại dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới.

    + Những tiểu thuyết nổi tiếng của Hê-ming-uê: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ về khí (1929), Chuông nguyện hồn ai (1940).Những ngọn đồi xanh Châu Phi,…

    + Truyện ngắn của Hê-ming-uê được đánh giá là những tác phẩm mang phong vị độc đáo hiếm thấy, được viết theo “ nguyên lí tảng băng trôi”.

2. Tác phẩm

– Ông già và biển cả được xuất bản lần đầu trên tạp chí Đời sống.

– Tác phẩm gây tiếng vang lớn và hai năm sau Hê-ming-uê được trao giải Nô-ben.

– Đoạn trích nằm ở cuối truyện .

    + Đoạn trích kể về việc chinh phục con cá kiếm của ông lão Xan-ti-a-gô. Qua đó người đọc cảm nhận được nhiều tầng ý nghĩa đặc biệt là vẻ đẹp của con người trong việc theo đuổi ước mơ giản dị nhưng rất to lớn của đời mình và ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con cá kiếm.

⇒ Tư tưởng chủ đạo: Niềm tin bất diệt vào con người

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

Qua các vòng lượn: Hình ảnh con cá với các vòng lượn (lặp đi, lặp lại)

– Vòng lượn vẽ lên những cố gắng cuối cùng nhưng cũng rất mãnh liệt của con cá:

    + Nó cố gắng thoát khỏi sự níu kéo, bủa vây của người ngư phủ.

    + Nó cũng dũng cảm, kiên cường không kém gì đối thủ.

⇒ Sự cố gắng cuối cùng mãnh liệt trong cuộc đấu tranh sinh tồn của con cá.

Câu 2 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

⇒ Cảm nhận từ xa đến gần, từ gián tiếp đến trực tiếp, từ bộ phận đến toàn thể . Qua đó tác giả khắc họa vẻ đẹp dũng mãnh của con cá

→ Biểu tượng cho thiên nhiên kì vĩ

Câu 3 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

Sự cảm nhận khác lạ của ông lão qua cuộc trò chuyện với con cá.

– Ông lão không chỉ cảm nhận con cá bằng thị giác và xúc giác, không chỉ bằng động tác mà còn bằng cả trái tim, sự cảm thông.

⇒ Quan hệ:

    + Người đi săn và con mồi

    + Hai kì phùng địch thủ

    + Hai người bạn

    + Con người và môi trường

    + Con người và cái đẹp, cái mơ ước.

– Nhà văn miêu tả vẻ đẹp con cá là để đề cao vẻ đẹp của con người. Ông lão Xan-ti-a-gô là biểu tượng cho vẻ đẹp của Con người: thật giản dị và cũng thật ngoan cường trên hành trình sinh tồn và chinh phục đỉnh cao khát vọng

⇒ Con cá kiếm là hình ảnh biểu tượng cho vẻ đẹp của thiên nhiên kì vĩ. Nó cũng là biểu tượng cho ước mơ khát vọng rất bình thường giản dị nhưng cũng vô cùng cao cả, kì diệu của con người.

Câu 4 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

* Hình ảnh con cá kiếm trước và sau khi ông lão chiếm được nó:

Con cá trước khi chết Con cá sau khi chết

– Chỉ riêng cái bóng đen của nó cũng khiến ông lão – một người đi biển cừ khôi cũng phải kinh ngạc

– Khôn ngoan, kiên cường và có sức chịu đựng tốt.

⇒ Con cá có sức mạnh ghê gớm, sự oai phong và kì vĩ.

Dường như không chấp nhận cái chết, nó “phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Con cá trắng bạc, thẳng đơ và bồng bềnh theo sóng.

⇒ Ngay cả khi đối mặt với cái chết, con cá vẫn thể hiện được sự kiêu hãnh, oai hùng.

* Biểu tượng của con cá kiếm:

– Khát vọng, lí tưởng của con người.

– Hành trình thực hiện ước mơ của con người.

– Hình ảnh cá kiếm chi chết: kết thúc chinh phục một khát vọng của con người ⇒ một hành trình mới lạ bắt đầu.

* Qua biểu tượng con cá kiếm gợi cho chúng ta bài học cần phải theo đuổi ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực.

III. Luyện tập

Câu 1 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

– Trong văn bản, nhiều lần tác giả sử dụng cụm từ lão (ông lão) nghĩ: 24 lần (15 lần trước và 9 lần sau khi giết con cá kiếm). Những hình thức này là dấu hiệu của hình thức độc thoại nội tâm của nhân vật.

– Nhà văn xây dựng nhân vật ông lão là một nhân vật tâm trạng, một người khiêm tốn , biết lo xa và tài trí: có 18 lần nhà văn sử dụng cụm từ lão (ông lão), nói, lão hứa với tính chất đối thoại. Nhưng trong tác phẩm, những lời nói của ông lão cũng chính là những lời độc thọai nội tâm được đối thoại hóa. Ông lão tự phân thân nói với chính mình để tự động viên chính mình nỗ lực chiến đấu.

⇒ Thể hiện sự kiên trì, ngoan cường, quyết tâm của ông lão. Qua đó, Hê – Minh – Uê ca ngợi vẻ đẹp về con người: “Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”.

Câu 2 (trang 135 sgk Ngữ văn 12 Tập 2):

Cách dịch Ông già và biển cả tạo nên sự cân xứng về nhịp điệu tiêu đề. Sự đối lập giữa hai đối tượng một người già cả >< biển lớn mênh mông, dữ dội. Tiêu đề nói lên: sức lực có hạn của con người >< cái vĩ đại bất tử của thiên nhiên.

Soạn bài Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê) siêu ngắn – Bản 3

Câu 1 (trang 135 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

– Hình ảnh những vòng lượn của con cá kiếm được nhắc đi nhắc lại phản ánh cuộc đấu giữa ông lão và con cá kiếm:

+ Cuộc chiến không cân sức: con cá kiếm khổng lồ, kiêu sa, dũng mãnh >< Xan-ti-a-gô bé nhỏ, đơn độc, già yếu. 

+ Cuộc chiến giữa khát khao chinh phục của Xan-ti-a-gô và cố gắng sinh tồn của con cá kiếm. Cả hai đều kiên cường, bền bỉ, dồn hết sức lực cho cuộc chiến.

Câu 2 (trang 135 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

– Bằng sự nhạy bén của ông già nhiều năm kinh nghiệm, ông đã huy động mọi khả năng vào cuộc chiến

+ Về thị giác: phán đoán con cá thông qua đường bơi nghiêng, sức căng của sợi dây

+ Về xúc giác: Cảm nhận được từng cử động của nó qua sợi dây

+ Ông lão đâm trúng con cá, nó vụt lên khỏi mặt nước, phô hết vẻ khổng lồ, sức lực

=> Các chi tiết được sắp xếp theo trình tự cuộc chinh phục cá kiếm, từ quan sát, cảm nhận khi con cá cố vùng vẫy để thoát rồi sau đó tới gần hơn.

Câu 3 (trang 135 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

– Lớp nghĩa mới: Quan hệ giữa ông lão và cá kiếm:

+ Người đi săn và con mồi

+ Hai kì phùng địch thủ

+ Hai người bạn

+ Con người và môi trường

+ Con người và cái đẹp, cái mơ ước.

– Ngoài mối quan hệ giữa con mồi và người đi săn (con cá và ngư phủ), ngoài cảm nhận bằng giác quan thông thường, ông lão Xan-ti-a-gô còn có một mối quan hệ bình đẳng, thân mật, cao thượng và có những cảm nhận sâu sắc hơn với con cá kiếm.

Ông lão trò chuyện với con cá như với một người bạn, người anh em: “cá ơi”, “cá này, dẫu sao thì mày…cũng chết nữa à?”.

Tôn trọng con cá: “mày có quyền làm thế”, “ta không quan tâm chuyện ai giết ai”.

=> Mối liên hệ giữa cá kiếm và ông lão: con người – tự nhiên, con người – cái đẹp, con người – ước mơ, khát vọng.

Câu 4 (trang 135 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

– Hình ảnh con cá kiếm trước khi bị Xan-ti-a-gô chiếm lĩnh: kì vĩ, kiêu sa, hùng dũng, đẹp đẽ, huy hoàng (tầm vóc khổng lồ, thân hình đồ sộ, những sọc tía trên mình, cánh vi trên lưng xếp lại, bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng…) ­→ ước mơ khi chưa với tới.

– Hình ảnh con cá kiếm sau khi bị Xan-ti-a-gô chiếm lĩnh: thảm hại, trần trụi, ngay trước mắt (nằm ngửa phơi cái bụng ánh bạc, thẳng đơ và bồng bềnh, con mắt trông dửng dưng…) → ước mơ khi đã đạt được không còn lung linh, xa vời.

* Biểu tượng của con cá kiếm:

– Khát vọng, lí tưởng của con người.

– Hành trình thực hiện ước mơ của con người.

– Hình ảnh cá kiếm chi chết: kết thúc chinh phục một khát vọng của con người ⇒ một hành trình mới lạ bắt đầu.

Luyện tập

Câu 1 (trang 135 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

Ngoài việc miêu tả bằng lời của người kể chuyện, còn có lời độc thoại nội tâm của Xan-ti-a-gô tự nói lên hành động và thái độ của ông trước con cá kiếm. Lời độc thoại nội tâm tự nhiên, chân thật khiến mối quan hệ của ông lão và con cá trở nên gần gũi, thân mật, bình đẳng.

Câu 2 (trang 135 SGK Ngữ văn 12 tập 2)

Cách dịch “Ông già và biển cả” hay hơn lối dịch nguyên văn “Ông già và biển” bởi nó tạo nên sự cân đối về số tiếng giữa hai đối tượng ngăn cách bởi từ “và”. Mặt khác, từ “biển cả” có tác dụng gợi hình, gợi cảm (trù phú, mênh mông, bí ẩn) hơn hẳn cách gọi ngắn gọn “biển”.

Tóm tắt

Xan-ti-a-gô – Ông lão đánh cá người Cu-Ba, sống cô độc và nghèo khổ trong túp lều cạnh bờ biển ngoại ô La-ha-ba-na. Vận đen đang bám riết lấy ông khi suốt 84 ngày không bắt được con cá nào ra hồn. Những người xung quanh chẳng còn tin vào cơ may của Xan-ti-a-gô, còn cậu bé Ma-nô-lin cũng bị cấm không được giao du với lão nữa. Ông quyết định ra khơi xa một mình, ông đến vùng nguy hiểm nhưng nhiều cá lớn. Một con cá kiếm khổng lồ mắc câu và ông lão bắt đầu cuộc săn đuổi con cá trong ba ngày liền. Đó là con cá kiếm lớn nhất và đẹp nhất ông từng thấy trong đời. Suốt mấy ngày, Xan-ti-a-gô tìm mọi cách để bám trụ và giữ con cá cho kì được. Cuối cùng, lão cũng cắm được mũi lao vào tim con cá và chinh phục được nó. Xan-ti-a-gô phấn chấn nghĩ đến những gì mà chiến lợi phẩm này mang lại khi trở về. Tuy vậy, mùi máu của con cá kiếm đã thu hút cả đàn cá mập đến rỉa mồi. Khi ông đuổi được chúng, con cá kiếm chỉ còn là bộ xương trắng khổng lồ phía sau đuôi thuyền. Về đến túp lều, Xan-ti-a-gô hoàn toàn kiệt sức và ngủ thiếp đi.

Bố cục

Bố cục (2 phần)

– Phần 1: Từ đầu đến “nước bắn tung, trùm lên cả ông lão lẫn con thuyền”: Cuộc chiến đấu của Xan – ti – a – go

– Phần 2: Còn lại: Hành trình Xan – ti – a – gô đưa con cá về bờ.

Nội dung chính

Hình ảnh ông lão đánh cá đơn độc dũng cảm săn đuổi con cá lớn nhất đời là một biểu tượng về vẻ đẹp của ước mơ và hành trình gian khổ của con người để biến ước mơ thành hiện thực.

 

Đăng bởi: Đại Học Đông Đô

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button