Lớp 9Ngữ Văn

Tác giả sáng tạo hình ảnh độc đáo – những chiếc xe không kính, nhằm mục đích gì? | Ngữ Văn 9

Câu hỏi: Tác giả sáng tạo hình ảnh độc đáo – những chiếc xe không kính, nhằm mục đích gì?

A. Làm nổi bật hình ảnh những người lính lái xe hiên ngang dũng cảm, sôi nổi, trẻ trung

B. Làm nổi bật những khó khăn, thiếu thốn về điều kiện vật chất, vũ khí của những người lính trong cuộc kháng chiến

Bạn đang xem: Tác giả sáng tạo hình ảnh độc đáo – những chiếc xe không kính, nhằm mục đích gì? | Ngữ Văn 9

C. Nhấn mạnh tội ác của giặc Mĩ trong việc tàn phá đất nước

D. Làm nổi bật sự vất vả, gian lao của những người lính lái xe

Trả lời: 

Đáp án đúng: B. Làm nổi bật những khó khăn, thiếu thốn về điều kiện vật chất, vũ khí của những người lính trong cuộc kháng chiến

Cùng Đại Học Đông Đô tham khảo một số bài văn mẫu Phân tích nội dung bài thơ Tiểu đội xe không kính để hiểu hơn về bài thơ này nhé.

Dàn ý phân tích bài thơ Tiểu đội xe không kính

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

– Giới thiệu sơ lược về hình tượng chiếc xe không kính trong bài thơ

II. Thân bài

  1. Hình tượng chiếc xe không kính là hình ảnh thực:

– Gợi những tiểu đoàn xe hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn.

– Nhằm thực hiện nhiệm vụ chi viện cho miền Nam đánh Mỹ.

  2. Hình tượng chiếc xe không kính gợi sự tàn khốc của hiện thực chiến tranh

– Hình tượng những chiếc xe không kính được miêu tả một cách trần trụi và chân thực

– “Bom giật, bom rung” phá vỡ những chiếc kính.

– Điệp từ “không có” cùng biện pháp liệt kê đã nhấn mạnh những thiếu thốn cùng sự khốc liệt của cuộc chiến.

– Hình tượng những chiếc xe gắn với sự tàn phá của khốc liệt của chiến tranh.

 3. Hình tượng chiếc xe không kính làm nổi bật vẻ đẹp của những người lính lái xe

– Vẻ đẹp của tư thế hiên ngang, ung dung: “Ung dung buồng lái ta ngồi”

– Vẻ đẹp của tinh thần dũng cảm, bất chấp hiểm nguy và coi thường những thiếu thốn, gian khổ.

– Vẻ đẹp của tình đồng chí, đồng đội

– Vẻ đẹp của tinh thần yêu nước và lí tưởng cách mạng.

III. Kết bài

Khái quát ý nghĩa của hình ảnh những chiếc xe không kính.

Bài văn mẫu phân tích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

       Tác giả Phạm Tiến Duật là một người lính, nhà văn tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam thời kì chống đế quốc Mỹ xâm lược. Vừa cầm súng, vừa cầm bút dùng tiếng thơ của mình để góp phần vào công cuộc bảo vệ nền hòa bình độc lập dân tộc. Trong các tác phẩm về người lính của Phạm Tiến Duật không thể không nhắc tới tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Bài thơ không chỉ khắc họa vẻ đẹp người lính lái xe hiên ngang mạnh mẽ mà còn thể hiện sự tàn khốc của chiến tranh qua hình ảnh những chiếc xe không kính.

      Những chiếc xe không kính trong thơ của Phạm Tiến Duật là hình ảnh có thật, và thật đến trần trụi, chỉ có ở trên tuyến đường Trường Sơn những năm tháng đất nước kháng chiến chống Mỹ. Cách đặt nhan đề bài thơ đã gây ấn tượng đầu tiên đối với người đọc. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, nhan đề khá dài và tác giả thêm vào hai chữ “bài thơ” nhằm muốn khẳng định và nhấn mạnh chất thơ có trong bài thơ, thể hiện được tâm hồn và cái nhìn lãng mạn của tác giả trước hiện thực chiến tranh khốc liệt, gian khổ.

   Chính Phạm Tiến Duật từng viết: “Mỗi trọng điểm là một nghĩa địa ô tô. Xác xe cháy ngổn ngang lưng đèo, đỉnh núi”. Biết bao chiếc xe đã được thu gom, chắp nhặt từ các nghĩa địa ô tô đó. Chỉ cần có bánh xe, máy nổ là coi như còn xe. Và tất nhiên, người ta phải chắp nhặt những bộ phận sót lại ở những chiếc xe khác nhau để làm nên một chiếc xe có thể chạy được. Đã có biết bao tiểu đội xe vận tải có những chiếc xe như thế chạy, chở hàng đã hoạt động trên đường Trường Sơn, thế thì mất kính có thấm tháp gì đâu ngoài việc tạo sự phóng túng cho lính lái:

Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng.

   Thì ra chiến sĩ lái xe không hề bận tâm về việc xe mình không có kính, ngược lại, chính xe không có kính càng tạo cho anh cái thế ung dung ngồi trong buồng lái mà không có gì ngăn cách với thiên nhiên:

                     Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

             Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

    Như sa như ùa vào buồng lái.

   Sao trời và cánh chim là biểu tượng của ban đêm và ban ngày. Xe chạy không phân biệt ngày đêm, nhưng thực tế những năm tháng ấy, xe chạy đêm là chính để tránh máy bay Mỹ. Lòng yêu những con đường của người lái xe được tác giả mô tả bằng cảm giác khi xe chạy nhanh: “con đường chạy thẳng vào tim”, chạy thẳng được vì không có kính ngăn lại!

   Thế thì không có kính không đem lại những khó khăn gì hay sao? Có chứ, nhưng khó khăn xoàng không mảy may ảnh hưởng đến tinh thần người lính:

   Không có kính, ừ thì có bụi…

    Không có kính, ừ thì ướt áo…

Điệp ngữ “ừ” thì thể hiện sự tất yếu đã biết, là một lẽ tất nhiên đã lường trước. Bụi chỉ làm trắng tóc lính trẻ, chỉ gây chuyện vui, chuyện buồn cười:

                       Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

       Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Còn mưa ướt áo, ừ thì chuyện xoàng:

            Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

          Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.

   Chúng ta lưu ý rằng, cái gió lùa hong khô áo đó chính do xe không có kính mang lại!

   Qua hai khổ thơ coi chuyện khó khăn do việc xe không có kính mang lại là chuyện vặt, tác giả trở lại khai thác cái thuận lợi, cái được sinh ra từ xe không có kính, đó là việc thể hiện tình đồng đội, đồng chí, tình những người lính lái xe trên tuyến lửa:

            Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

   Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Động tác bắt tay nhau vồn vã này không thể làm được khi xe có kính!

Nhà thơ miêu tả những chiếc xe không kính nhằm làm nổi bật hình ảnh những người lái xe trên đó. Tuy công việc đầy hiểm nguy gian khổ, nhưng những anh chiến sĩ trẻ này dưới bom đạn triền miên vẫn luôn giữ một tư thế ung dung lạc quan và tươi trẻ. Phạm Tiến Duật trong bài thơ này đã miêu tả những cảm xúc rất cụ thể của họ khi ngồi trên chiếc xe không có kính.

Ung dung buồng lái ta ngồi

     Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

         Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng.

                       Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

                Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

        Như sa, như ùa vào buồng lái.

       Những câu thơ có nhịp điệu nhanh gấp mà vẫn nhịp nhàng đều đặn này gợi đến nhịp tiếng bánh xe bon bon chạy trên đường dài. Có thực sự ung dung nhìn đất, nhìn trời không chút lo âu hốt hoảng trước bom đạn cận kề thì anh chiến sĩ trẻ của chúng ta mới có thể nhìn và thấy đến đủ đầy như thế. Anh từ nhìn thấy gió, nhìn thấy con đường đến nhìn thấy cả sao trời và cánh chim… từ buồng lái đã vỡ hết kính chắn gió, gió vào xoa mắt đắng. Làn gió đã ùa vào như thể làm giảm đi vị đắng nơi khoé mắt. Mắt đắng vì mắt đã thức nhiều đêm để lái xe liên tục từ đêm này sang đêm khác. Tất cả thế giới bên ngoài ấy đã ùa vào buồng lái của anh với tốc độ làm chóng mặt. Con đường cũng vì thế như chạy ngược về phía người lái và trở thành Con đường chạy thẳng vào tim.

     Trong tư thế hiên ngang chủ động đó, người chiến sĩ lái xe đã bình thản coi thường mọi khó khăn, nguy hiểm và gian khổ. Giọng điệu của anh thật ngang tàn, tếu táo:

 

Không có kính, ừ thì có bụi

          Bụi phun tóc trắng như người già.

                       Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc.

      Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

  Không có kính, ừ thì ướt áo.

           Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

              Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa.

            Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi!

    Các anh còn là những chàng trai trẻ sôi nổi, vui nhộn và lạc quan thể hiện qua cái nhìn bụi phun tóc trắng như người già và đặc biệt là tiếng cười sảng khoái đầy trẻ trung hồn nhiên và yêu đời: “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”, dẫu là sinh hoạt từ cái ăn, cái ngủ bình thường của các anh đều có tính tạm bợ, nhiều gian khổ:

             Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

                Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

                     Võng mắc chông chênh đường xe chạy

  Lại đi, lại đi, trời xanh thêm.

   Khổ thơ cuối đã hoàn thiện vẻ đẹp của người lính, đó là lòng yêu nước, ý chí chiến đấu giải phòng miền Nam:

            Không có kính rồi xe không có đèn

             Không có mui xe, thùng xe có xước

                 Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

         Chỉ cần trong xe có một trái tim.

  Giờ đây những chiếc xe không chỉ mất kính mà lại không đèn, không mui, thùng xe có xước. Chiếc xe đã biến dạng hoàn toàn. Người lính xế lại chất chồng khó khăn. Sự gian khổ nơi chiến trường ngày càng nâng lên gấp bội lần nhưng không thể làm chùn bước những đoàn xe nối đuôi nhau ngày đêm tiến về phía trước. Nguyên nhân nào mà những chiếc xe tàn dạng ấy vẫn băng băng chạy như vũ bào? Nhà thơ đã lí giải: “Chỉ cần trong xe có một trái tim”. Câu thơ dồn dập cứng cáp hẳn lên như nhịp chạy của những chiếc xe không kính. Từ hàng loạt những cái “không có” ở trên, nhà thơ khẳng định một cái có, đó là “một trái tim”.Đó là phép hoán dụ nghệ thuật tu từ chỉ người chiến sĩ lái xe Trường Sơn năm xưa. Trái tim của họ đau xót trước cảnh nhân dân miền Nam sống trong khói bom thuốc súng, đất nước bị chia cắt thành hai miền. Trái tim ấy dào dạt tình yêu Tổ quốc như máu thịt, như mẹ cha, như vợ như chồng… Trái tim ấy luôn luôn sục sôi căm thù giặc Mỹ bạo tàn. Yêu thương, căm thù chính là động lực thôi thúc những người chiến sĩ lái xe khát khao giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Để ước mơ này trở thành hiện thực,chỉ có một cách duy nhất: vững vàng tay lái, cầm chắc vô lăng. Vì thế thử thách ngày càng tăng nhưng tốc độ và hướng đi không hề thay đổi. Đằng sau những ý nghĩa ấy, câu thơ còn muốn hướng con người về chân lý thời đại của chúng ta: sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là vũ khí mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng. Có thể coi câu thơ cuối là câu thơ hay nhất của bài thơ. Nó là nhãn tự, là con mắt thơ, bật sáng chủ đề, toả sáng vẻ đẹp hình tượng người lính lái xe thời chống Mỹ.

    Dù bom đạn đã phá hủy tất cả chiếc xe, nhưng “trái tim” của người chiến sĩ lái xe là một động cơ hoàn hảo, có thể thay thế cho toàn bộ những cái “không có” bên trên của những chiếc xe hư hỏng, trần trụi. Tất cả vì một mục tiêu cao cả mà người lính lái xe đã xác định cho mình “vì miền Nam” ruột thịt.

      Đến đây, chúng ta nhận ra một điều, chắc hẳn Phạm Tiến Duật phải là một hồn thơ nhạy cảm, có nét ngang tàng, tinh nghịch, thích cái mới lạ thì mới có thể nhận ra được và đưa những chiếc xe không kính vào trong thơ, trở thành biểu tượng độc đáo của thời kì chiến tranh chống Mĩ tuyệt vời đến như vậy. Hình ảnh này tạo nên cái tứ lạ, độc đáo, vừa nói lên cái ác liệt, dữ dội của chiến tranh, vừa bộc lộ được phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ lái xe trên tuyến lửa Trường Sơn: dũng cảm, hiên ngang, tếu táo, tinh nghịch, rất lính tráng…

Đăng bởi: Đại Học Đông Đô

Chuyên mục: Lớp 9, Ngữ Văn 9

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button