Lớp 9Ngữ Văn

Vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng qua truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao và truyện ngắn Làng của Kim Lân | Ngữ Văn 9

Tuyển chọn những bài văn hay Vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng qua truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao và truyện ngắn “Làng” của Kim Lân. Với những bài văn mẫu ngắn gọn, chi tiết, hay nhất dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Dàn ý Vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng qua truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao và truyện ngắn “Làng” của Kim Lân – Bài số 1

1. Mở bài

Bạn đang xem: Vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng qua truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao và truyện ngắn Làng của Kim Lân | Ngữ Văn 9

– Giới thiệu chung về đề tài người nông dân trong các tác phẩm

– Nêu luận điểm: Hình ảnh người nông dân qua hai tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao và “Làng” của Kim Lân.

2. Thân bài:

* Khái quát chung 

– Hoàn cảnh sáng tác của 2 tác phẩm:

+ Lão Hạc: Lão Hạc là một truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao viết về người nông dân ở xã hội phong kiến cũ, đăng báo lần đầu năm 1943, ra đời trong lúc xã hội là thực dân phong kiến, Người dân phai chịu nhiều áp bức, bóc lột

+ Làng: Truyện ngắn “Làng” viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948, ra đời vào lúc người nông dân được giải phóng khỏi áp bức, tham gia vào công cuộc cách mạng tự giác.

– Giải thích: nông dân là người làm nông nghiệp, là tầng lớp đông đảo nhất, bị áp bức bóc lột nặng nề nhất trong XH thực dân phong kiến xưa. Đây là một trong hai lực lượng nòng cốt của cách mạng Việt Nam

* Vẻ đẹp cụ thể của người nôn dân qua 2 tác phẩm

– Đều mang những nét chung, là tiêu biểu cho tất cả tầng lớp nông dân nói chung:

+  Hiền lành, cần cù, chịu khó.

   Lão Hạc: già mà vẫn làm thuê, làm mướn, kiếm ăn, không cần nhờ sự giúp đỡ của ai

   Ông Hai:  may mắn hơn Lão Hạc đó là ông còn có gia đình. ở nơi tản cư dù khó khăn những vẫn cần mẫn cuốc xới đất: “hì hụi vỡ vạt đất rậm ngoài bờ suối từ sáng tới giờ”

+ Giàu lòng nhân ái, lương thiện, giàu lòng tự trọng 

   Lão Hạc: là người cha hết mực yêu thương con. Gửi tiền cho ông giáo để lo ma chay cho mình, sẵn sàng chết bằng liều bả chó chứ không sống bất lương như Binh Tư…

   Ông Hai:  cũng là người yêu thương con, thương vợ. Ông còn yêu thương cái làng chợ Dầu của mình nữa.  khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc và cảm thấy đó là điều nhục nhã. Ông nhận thức đó là việc làm trái với lương tâm nên ông thấy xấu hổ, nhục nhã.

– tuy vậy, hình ảnh người nông dân qua 2 tác phẩm còn mang những phẩm chất riêng đậm đà phong cách thời đại:

+ Về cảnh ngộ, cuộc sống:

    Lão Hạc:  là hình ảnh người nông dân sống trước thời kỳ Cách mạng Tháng Tám với cuộc sống bất hạnh, đau khổ, bị áp bức, bóc lột, không có lối thoát.

   Ông Hai: là người nông dân sống trong thời kỳ KCCP, cuộc sống gần với không khí khẩn trương, náo nức của dân làng tham gia khi cùng nhau tham gia kháng chiến. 

+ Về phẩm chất, tính cách:

– Lão Hạc: thương yêu con

– Ông Hai: yêu làng, yêu nước sâu sắc

3. Kết bài:

Khẳng định vẻ đẹp của người nông dân qua 2 tác phẩm

Dàn ý Vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng qua truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao và truyện ngắn “Làng” của Kim Lân – Bài số 2

Mở bài:

     Viết về đề tài người nông dân Việt Nam trước cách mạng, mỗi nhà văn có cách khám phá khác nhau nhưng đều thống nhất ở chỗ họ là những con người hiền lành, chất phác, ham sống và không ngừng tìm cách vươn lên. Tuy mỗi số phận là một bi kịch, nhưng lúc nào họ cũng sống đầy lòng yêu thương. Nếu Tắt đèn của Ngô Tất Tố phát hiện ra sức sống mãnh liệt tiềm tàng trong nhân vật chị Dậu – một người phụ nữ khốn khổ thì nam Cao lại tìm thấy tình người quý báu trong nhân vật Lão Hạc, Kim Lân bắt gặp tấm lòng yêu nước, yêu làng thắm thiết của nhân vật ông Hai.

Thân Bài:

     Vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam trong hai tác phẩm trước hết họ là những người nông dân hiền lành, cần cù chịu khó, một đời chăm lo lo làm ăn.

     Lão Hạc khi còn sức lực thì cầy thuê, cuốc mướn tự nuôi thân mình. Chưa bao giờ lão làm phiền một ai. Khi già yếu, lão vẫn gắng gượng,  đem chút hơi tàn còn lại để kiếm sống.

     Ông Hai may mắn hơn Lão Hạc đó là ông còn có gia đình. Lúc còn ở làng, ông chăm chỉ làm ăn. Vợ ông cũng tảo tần buôn bán. Khi ở nơi tản cư, dù khó khăn nhưng ông cũng không chịu ngồi không bó gối. Ông tìm được mảnh đất, cần mẫn cuốc bới. Vừa làm việc, vừa trù tính cho tương lai một cách háo hức.

     Họ là những người giàu lòng nhân ái. Họ còn có phẩm chất cao cả, lương tâm trong sạch:

     Lão Hạc là người cha hết mực yêu thương con. Có thể nói lão sống là để vì con, chỉ vài con. Vì nghèo không có niềm tiền mà con trai lão không lấy được vợ, phải bỏ nhà bỏ quê đi làm ăn xa. Điều đó khiến lão ăn năn nhiều lắm. Lão nhiều lần tự trách mình không chăm lo cho con được trọn vẹn. Bởi thế, khi anh con trai đi đồn điền, lão chắt chiu từng đồng để dành. Dù đau ốm, khó khăn, thiếu thốn đến mức nhịn ăn nhưng quyết không tiêu vào tiền hoa lợi từ mảnh vườn để dành cho con.

     Không những yêu thương con trai, lão còn yêu thương cậu Vàng (con chó lão nuôi) như đứa con đặc biệt của mình. Có thể nói, tình yêu của lão Hạc dành cho cậu vàng thật đáng quý, hiếm gặp trên đời. Lão là người nghèo khó nhưng giàu lòng tự trọng. Chưa bao giờ lão phiền phức đến ai. Thấy lão khổ cực, đáng thương, ông Giáo âm thầm giúp đỡ nhưng lão từ chối tất cả. Biết mình đơn chiếc nên lão cũng đã sớm lo cho cái hậu sự của mình. Lão đem tiền gửi tiền ông giáo để lúc nằm xuống phải phiền lụy đến dân làng. Lão thà chết để giữ chọn ba sào vườn cho con trai.

     Ông Hai cũng là người yêu thương con, thương vợ. Ông còn yêu thương cái làng chợ Dầu của mình nữa. Lúc nào ông cũng tự hào về cái làng chợ Dầu vừa đẹp, vừa to, lại có truyền thống đấu tranh kiên cường, anh dũng. Đi đâu ông cũng nới về cái làng ấy như thể nó là của riêng ông vậy.

     Khi nghe có lệnh phải xa làng đến nơi tản cư, ông buồn lắm. Ông không muốn đi. Nhưng ủng hộ kháng chiến buộc ông phải cùng gia đình dời đi. Ở nơi tản cư ông nhớ làng vô cùng. Ông lại tiếp tục khoe về nó một cách hồ hởi. Khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau đớn, tủi hổ và căm giận. Ông như chết lặng khi nghe cái tin dữ ấy. Đến khi cái tin ấy được ông chủ tịch cải chính, tình yêu làng lại trở về với ông. Nó như một lần nữa tái sinh cuộc đời ông.

     Ông Hai yêu làng một cách vô tư. Chính nó là nguồn sống trong trái tim ông. Từ tình yêu làng chuyển biến lên tình yêu nước, tình yêu cách mạng, tình yêu lãnh tụ. Sự chuyển biến tình cảm trong ông hai khẳng định, ở người nông dân hiền lành ấy có một trái tim trong sáng, một nhân cách cao đẹp, một tình thần yêu làng, yeu nước thiết tha.

     Vẻ đẹp riêng của nhân vật trong mỗi giai đoạn lịch sử:

     Lão Hạc sống trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám. Cuộc đời Lão từ khi vợ chết có nhiều cơ cực, đau khổ. Là người nông dân nghèo, một mình nuôi con. cái nghèo đói lắm cuộc đời lão càng thêm tăm tối, bất hạnh. Lão ân hận, khổ sở vì không có tiền cho con lấy vợ. Lão lo tiền cho con, lo tiền làm ma cho mình hơn là lo cho cuộc sống hàng ngày của mình. Cuối cùng lão chọn đến cái chết như một sự giải thoát. Đó là một cái chết đau đớn, vật vã về thể xác (ăn bả chó tự tử) để giữ lấy lương tâm và phẩm giá trong sạch của mình.

     Cuộc đời lão Hạc đi vào bước đường cùng không lối thoát. Dù lão đã gắng gượng hết mình nhưng cũng không thể thoát ra khỏi cái kết cục bi thảm. Cái chết của lão Hạc không khỏi khiến cho người đọc ngậm ngùi và cảm thương về cuộc đời khổ đau và số phận khắc nghiệt của người nông dân trước cách mạng tháng Tám.

     Ông Hai nghèo khổ trong kháng chiến chống Pháp. Cách mạng đã đem cho ông sự suy nghĩ và hành động mới. Ông được sống trong tự do, được làm chủ bản thân và cuộc đời. Ông thoát khỏi sự áp bức nặng nề của chế độ thực dân phong kiến. Và vượt lên trên hết, ông còn có gia đình, có một nguồn vui sống dạt dào: tình yêu làng thiết tha. Ông hể hả, vui mừng tự tin và hiểu rõ trách nhiệm của mình trươc làng xóm, trước Cách mạng.

     Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân, một người nông dân thuần khiết như bao người nông dân Việt Nam khác mang trong mình tình yêu làng quê thật giản dị mà sâu sắc. Ông thường hay nói về nó, kể về nó với một tâm trạng háo hức say mê. Đó là một ngôi làng với phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng. Chòi phát thanh cao bằng ngọn tre. Nhà ngói san sát, sầm uất như trên tỉnh. Đường cái quan to lớn, có lát đá sạch sẽ.

     Không những đẹp về hình thức, làng ông còn đẹp cả trong tinh thần. Làng ông đã theo kháng chiến những ngày khởi nghĩa dồn dập. Cái làng với nhiều ụ, nhiều giao thông hào chuẩn bị kháng chiến…”. Và khi phải tản cư rồi, ông vẫn bồi hồi không yên. Từng ngày, ông luôn lắng nghe tin tức ở cái làng thân yêu của mình trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Ông đã vô cùng xấu hổ, đau xót và căm hận khi nghe làng mình theo tây. “Cổ ông nghẹn đắng”, “nước mắt trào ra”… .Và ông cũng thật hả hê, vui mừng khi được tin cải chính. Ông Hai là hình ảnh sinh động của những một người nông dân gắn bó với quê hương, yêu làng, yêu cuộc sống, yêu nước, yêu cụ Hồ, và hăng hái kháng chiến…

Kết bài:

     Cái nhìn chân thực về hình ảnh người nông dân trước cách mạng qua Lão Hạc (Nam Cao) và Làng (Kim Lân) Người nông dân Việt Nam ở hai thời kì đều mang những nét đẹp đặc trưng tiêu biểu cho truyền thống nông dân Việt nam. Đó là phẩm chất cần cù chịu khó, chăm chỉ lương thiện và giàu lòng nhân ái. Yêu nước, yêu quê hương (làng mình, mảnh vườn…). Cả hai nhân vật ông Hai và lão Hạc đều là những nông dân nghèo, chưa có nhận thức đầy đủ về giai cấp trước Cách mạng. Họ đã đi theo Cách mạng, tham gia kháng chiến. Vẻ đẹp ấy càng đẹp hơn bao giờ hết là tình yêu làng, yêu nước gắn với Cách mạng và Kháng chiến. Họ đã không thỏa hiệp với kẻ thù, không đội trời chung với kẻ thù, không là Việt gian bán nước.

Vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng qua truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao và truyện ngắn “Làng” của Kim Lân – Bài mẫu

Vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng qua truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao và truyện ngắn Làng của Kim Lân (ngắn gọn, hay nhất) (ảnh 2)

     Đề tài về người nông dân vốn là một đề tài tiêu biểu được rất nhiều tác giả khai thác và chọn làm đề tài. Mỗi số phận của họ đều là những bi kịch.  Nhưng họ luôn hiện lên với những phẩm chất tốt đẹp nhất của một con người. Hình ảnh con người giàu tình yêu thương qua nhân vật Lão Hạc của Nam Cao hay hình ảnh con người với tấm lòng yêu nước qua nhân vật ông Hai của Nam Cao đã tô đậm sáng chói hơn nữa vẻ đẹp mãnh liệt của những tâm hồn đầy yêu thương.

    Lão Hạc là một truyện ngắn xuất sắc của Nam Cao viết về người nông dân ở xã hội phong kiến cũ, đăng báo lần đầu năm 1943, ra đời trong lúc xã hội là thực dân phong kiến, người dân phai chịu nhiều áp bức, bóc lột. Còn truyện ngắn “Làng” của Kim Lân được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948, ra đời vào lúc người nông dân được giải phóng khỏi áp bức, tham gia vào công cuộc cách mạng tự giác. Cả hai tác phẩm này đều viết về hình ảnh những người nông dân với những phẩm chất nổi bật. Nông dân là người làm nông nghiệp, là tầng lớp đông đảo nhất, bị áp bức bóc lột nặng nề nhất trong XH thực dân phong kiến xưa. Đây là một trong hai lực lượng nòng cốt của cách mạng Việt Nam.

      Vẻ đẹp của người nông dân được hiện lên qua hai tác phảm trên đều có những nét đẹp chung, mang vẻ đẹp truyền thống của những người nông dân Việt Nam nói chung. Trước hết họ là những người nông dân hiền lành, cần cù, chịu khó. Lão Hạc hồi trẻ rất chăm chie, chịu khó, cày thuê, cuốc mướn để nuôi sống bản thân mình và con cái. Rồi khi già mà vẫn làm thuê kiếm ăn, không cần nhờ sự giúp đỡ của ai, tự mình gắng gượng, sống qua ngày. Ông Hai có thể coi như hoàn cảnh may mắn hơn Lão Hạc một chút đó là ông còn có gia đình. Ở nơi tản cư dù khó khăn những vẫn cần mẫn cuốc xới đất: “hì hụi vỡ vạt đất rậm ngoài bờ suối từ sáng tới giờ”. Họ còn là những người giàu lòng nhân ái, lương thiện, giàu lòng tự trọng. Lão Hạc là người cha hết mực yêu thương con. Lão rất buồn vì không có tiền để lo cho con, mà phải để con mình đi làm đồn điền. Lão nhiều lần tự trách mình không chăm lo cho con được trọn vẹn. Dù ốm đau, bệnh tật thì lão cũng nhất quyết để lại cho con mảnh vườn. Ngoài yêu thương con ra, lão còn rất yêu quý chú cho có tên là cậu Vàng của mình. Lão luôn yêu thương con chó như chính yeu thương con mình. Thứ tình cảm này thật cao cả và đáng trân trọng. Dù nghèo khổ thế nào đi chăng nữa thì lão vẫn giữ được lòng tự trọng của mình. Lão gửi tiền cho ông giáo để lo ma chay cho mình, sẵn sàng chết bằng liều bả chó chứ không sống bất lương như Binh Tư… Ông Hai cũng là người yêu thương con, thương vợ. Ông còn yêu thương cái làng chợ Dầu của mình. Đi đến đâu ông lại tự hào và khoe về cái làng của mình đến đấy. Ở nơi tản cư ông nhớ làng vô cùng.  Khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau đớn, tủi hổ và căm giận. Ông như chết lặng khi nghe cái tin dữ ấy. Ông nhận thức đó là việc làm trái với lương tâm nên ông thấy xấu hổ, nhục nhã. Trên tất cả vẻ yêu làng ấy là tình yêu nước, yêu quê hương, Tổ quốc sâu sắc. Qua tâm trạng khi nghe tin làng theo giặc đến khi được đính chính, ông hai hiện lên là một người nông dân hiền lành ấy có một trái tim trong sáng, một nhân cách cao đẹp, một tình thần yêu làng, yêu nước cháy bỏng. 

    Bên cạnh những điểm chung, hình ảnh người nôn dân qua hai tác phẩm còn mang những phẩm chất riêng đậm đà phong cách thời đại. Lão Hạc sống trong thời kỳ trước cách mạng tháng Tám, với cuộc sống bất hạnh, đau khổ, bị áp bức, bóc lột, không có lối thoát. Là người nông dân nghèo, lại phải một mình nuôi con do người vợ mất sớm. Có lẽ chính cái nghèo đói đã dồn lão đến bước đường cùng. Cuộc đời lão Hạc dường như không có lối thoát. Cuộc đời ấy như chính con đường tối tăm mà ta đang phải đương đầu với địch ngoại xâm. Cuối cùng lão đã chọn cái chết để giải thoát cho chính mình.  Cái chết của lão Hạc khiến cho người đọc xót xa và cảm thương về cuộc đời khổ đau và số phận khắc nghiệt của người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Còn ông Hai là người nông dân sống trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cuộc sống gần với không khí khẩn trương, náo nức của dân làng tham gia khi cùng nhau tham gia kháng chiến. Ông được sống trong tự do, được làm chủ cuộc đời mà không phải chịu áp bức nặng nề của chế độ thực dân phong kiến. Bên cạnh đó, ông còn có gia đìnhvà một tình yêu làng thiết tha. Ông  vui mừng và hiểu rõ trách nhiệm của mình trươc làng xóm, trước Cách mạng. Ông hăng hái cùng tham gia tong công cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta. ông không những đẹp về hình thức và đẹp về tam hồn với một trái tim cháy hết mình về Tổ Quốc. Lão Hạc nổi bật với phẩm chất giàu tình thương yêu con. Lão xót xa khi con phải đi mộ phu, lão nhớ con da diết; và sẵn sàng hi sinh tất cả vì con…. Còn Ông Hai thì có một tình tình yêu làng, yêu nước sâu sắc: Ông đau khổ, day dứt, tủi nhục khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc…

    Mỗi tác giả có cách thức xây dựng nhân vật khác nhau. Cách miêu tả tâm lý nội tâm nhân vật đặc sắc, giàu sức  biểu đạt. Ngôn ngữ và hình ảnh thì gần gũi với con người dân tộc ta. Qua hai tác phẩm sự phát triển của người nông dân trước và sau cách mạng thể hiện cái nhìn nhân đạo của Nam Cao và cái nhìn hiện thực của Kim Lân.

     Hình ảnh hai người nông dân với những phẩm chất toát lên được những gì tinh túy nhất của người nông dân Việt Nam. Đó là những con người cần cù chịu khó, lương thiện và giàu lòng nhân ái.  Họ yêu nước, yêu quê hương và tham gia kháng chiến bảo vệ Tổ Quốc. Họ mãi là những con người đẹp đẽ sống bất diệt trong trái tim dân tộc.

Trên đây là một số bài văn mẫu Vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng qua truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao và truyện ngắn “Làng” của Kim Lân Đại Học Đông Đô đã biên soạn. Hy vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em có một bài văn thật tốt!

Đăng bởi: Đại Học Đông Đô

Chuyên mục: Lớp 9, Ngữ Văn 9

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button